Cảm nhận của môn sinh Sách hay Tàng thư các

DƯỠNG CHÂN TẬP – NQT HOÀNG VŨ THĂNG BÌNH CHÚ

* Với người theo học Tĩnh công ý thức thì có lẽ đây là cuốn sách gối đầu giường *

PHI LỘ

Thường nghe: cuộc đời như bóng câu qua cửa sổ, như gió thoảng mây bay, một thoáng đã đi qua một cuộc đời. Biết bao người ngậm ngùi đau đớn trong giấc mộng Kê lương ấy, than ôi, phù vân cả!
Thường thấy: con người vất vả bon chen để tồn tại, lao vào như con thiêu thân, để đến nỗi thân xác bệnh hoạn, tâm thần bất an. Người thì hưng phấn giả tạo, kẻ thì bi quan bất cần. Thương thay thất công vô ích mà thôi!
Bởi vậy con người cần phải có quá trình tu tâm luyện thể, còn gọi là tu Đạo, cũng là cần có con đường và mục đích cho cuộc sống của mình, mhưng cũng khó lắm thay!
Xét thấy con đường tu Đạo cũng chỉ có hai việc Tâm và Pháp, mà chính lại là Tâm. Tâm Chính thì Pháp Tà thành Chính. Tâm Tà thì pháp Chính hóa Tà. Bởi vậy “vô Tâm bất Tà Chính, hữu Tâm thị Chính Tà” là vậy. Đáng than thay!
Người tu cũng chỉ là tu Tâm, và tu Thể. Tâm mà không tu, thì Thể tu có ích chi. Tam giáo do Tâm mà sinh, Cửu lưu do Tâm mà loạn, Thể cũng vì Tâm mà hư nát. Than ôi Thiên tâm u ám!
Nhưng lòng Đạo không mở thì tình Trần chẳng dứt, mà sa vào cõi trầm luân đau khổ, tật bệnh, hạn họa miên miên chẳng dứt, đáng thương, đáng thương thay!
Học đạo là phải học cả Đạo lý và Đạo pháp, học cả Tâm, cả Thể để nâng cả Thần, cả Trí mới là tu Đạo.
Ngày nay không ít người tìm đường tu Đạo, nhưng Đạo là gì không mấy người hiểu thấu đáo, tu thế nào quá ít người làm trọn, mà không mấy người đạt Đạo vậy.
Dưỡng Chân nhân đứng ở Đạo giáo, mà cùng Phật giáo, Nho giáo để xét Đạo, để tìm Đạo, để giải Đạo, mà đưa Đạo tới người, công quả vĩ đại thay! Xứng đáng thành Đạo cho người ngày nay đi theo.
Mặc dù Cổ ý không phải để luận, Thâm ý không phải để suy, phép học của người Phương đông là Chiêm nghiệm Trừu tượng, chứ không phải là Duy lý Cụ thể (Tâm học, Thức học không phải là Trí học, Lý học) khó lắm thay!
N.Q.T. tôi nối chí Tiên nhân san định bình chú, hầu mong đưa được Đạo ra ánh sáng để mọi người có thể hiểu Đạo, mà theo Đạo, mà đạt Đạo, cũng là để đem cái Tâm đau đáu của mình cho Nhân thế hiểu!

Nhâm ngọ 2004
N.Q.T. HOÀNG VŨ THĂNG

TỰA CŨ CỦA DƯỠNG CHÂN TẬP

Tháng giêng năm Quí Mão tôi ở kinh đô về ghé ấp người bạn tôi, nghỉ tại thư phòng. Thấy trên bốn vách phòng dán giấy chữ chập chùng, dày chật như vảy cá, tôi mới bước vào xem: nào là Đạo của Trời Đất, Nhật Nguyệt, nào là Lý về Quỉ Thần, Nhân vật, nào là Thuật Siêu sinh Trường sinh, nào là Phép Xuất thế Nhập thế. Chẳng có điều gì là không chép đủ, chẳng có điều gì là không tinh tường. Ấy thật là lời tỉnh thế, là phép tu Thân.
Tôi mới xin bạn tôi chép hết ra, phân từng loại, rồi xếp thành tập. Khi thành sách rồi, chia thành quyển thượng và quyển hạ.
Sách này đem điều Chân lẽ Ngụy trong Tam giáo, cùng những Tâm pháp của Tác giả tự đắc, mà bày tỏ hết ra dạy người, chẳng chút gì dấu diếm cả. Khiến nên người xem cuốn sách này, nếu ngẫm nghĩ cho kỹ càng, tự nhiên Thiên tâm phát hiện, rõ thấu Huyền vi. Nhờ vậy mà kẻ mê đặng ngộ, người Tà ra Chính, chẳng lầm theo bàng môn, người ám đặng minh, không nửa đường mà thôi bước.Vậy thì cuốn sách này của bạn tôi sẽ có cái công giúp ích cho Tâm Thế Đạo Nhân lớn biết mấy!
Bạn tôi đạo hiệu là Dưỡng Chân. Còn tôi già cả vụng về. Không giúp thêm được câu nào, chỉ có đề ra 3 chữ “Dưỡng Chân tập” làm nhãn hiệu sách này đó thôi.

Người dịch và bình chú
N.Q.T. HOÀNG VŨ THĂNG

1. ĐẠO

Ở trong khoảng trời đất này, con người muốn làm việc vẻ vang nhất, thì có cái gì bằng đọc sách. Còn ở trong hạng người đọc sách, mà muốn nên một bậc cao thượng thì có gì bằng học Đạo.
Chu Tử nói rằng: Đọc sách là để cầu Đạo, chẳng vậy thì đọc làm gì? Chứ học mà thi cử là việc ngoài phận sự, rất tiếc cho sự học ấy làm hư biết bao nhiêu người!
Đọc sách nghiên cứu là để nâng cao trí tuệ, từ đó phát triển tinh thần, có mấy ai hiểu không, than ôi đáng tiếc thay!
Vả chăng Đạo là con đường để ta tồn tại và vươn lên tới chân lý Chân – Thiện – Mỹ, cho ta cuộc sống tươi đẹp vĩnh hằng mà ta chẳng lẽ không theo ư?
Kinh Đạo Đức có nói rằng: “Cố lập Thiên tử chí Tam công, tuy hữu cùng bích dĩ tiến tứ mã, bất như tọa tấn thử Đạo”, nghĩa là chớ nên lập ngôi Thiên tử đặt bậc Tam công, tuy có ngọc cùng bích và giục xe tứ mã, chẳng bằng ngồi một chỗ mà biết Đạo.
Than ôi có danh, có lợi mà không có Đạo thì ích chi. Danh rồi mất, lợi rồi hết chỉ có Đạo còn mãi mà thôi.
2. Hồi xưa, các Đế vương đã có Vương Đạo mà lại gồm Sư Đạo, cho tới đời đức Khỗng Tử, cái Đạo chẳng còn ở tại vua nữa mà ở nơi kẽ sĩ
Đời này không phải là không có kẻ sĩ, không phải là không có Đạo, mà ai là kẻ thấy mà biết Đạo, ai là kẻ nghe mà hiểu Đạo?
Vả chăng Đạo như con đường, thì có phải khó biết đâu, lỗi tại không cầu đến nó mà thôi, chứ cầu thì chắc được. Bậc Thiên tử đạt Đạo thì giữ được thiên hạ, các Chư hầu đạt Đạo thì giữ được đất nước, Quan khanh Đại phu đạt Đạo thì giữ được cửa nhà, kẽ sĩ thứ đạt Đạo thì giữ được thân mình.
3. Tài là món người ta hay dùng mà ít khi được mãi, đức là món đồ để trau mình mà hữu danh. Còn Đạo thì vô danh nên dùng được hoài. Cho nên người quân tử chỉ lo học Đạo, công danh phú quí đều coi như phù vân, mặc nó đi đi, lại lại, trong lòng vẫn không chút nào động cả.
4. Có kẻ nói: Người quân tử chỉ lo học Đạo, làm vậy có ích gì chăng?
– Trả lời: Có.
– Dám xin chỉ bảo dùm.
– Người học Đạo là học cái ở nơi ta. Tâm phải mở rộng thân phải tươi nhuần, bệnh có thể hết, chết có thể khỏi. Sự ích như thế này thì còn sự ích nào hơn nữa?
– Lại hỏi: Người học Đạo quả thật có sự ích với sự vui đó sao? Mà nay kẻ thế thất thấy có người học Đạo thì mắng học là làm xằng, là tại sao vậy?
– Trả lời: Đạo Đức kinh nói rằng “Thượng sĩ văn Đạo cần nhi hành chi, Trung sĩ văn Đạo nhược chi nhược tồn vong, Hạ sĩ văn Đạo đại tiếu chi: bất tiếu bất túc vi Đạo” nghĩa là người Thượng sĩ nghe Đạo thì ân cần mà làm theo, người Trung sĩ nghe Đạo như nhớ như quên, kẽ Hạ sĩ nghe Đạo thì cười lớn lên, nếu chẳng cười thì đâu đã gọi là Đạo “Vì Đạo rất khó, chẳng phải kẽ tầm thường mà hiểu được”.
5. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: Trong hạng người đọc sách, cao thượng đệ nhất thì có gì bằng người học Đạo. Mà từ xưa đến nay, kẻ học Đạo đông đúc còn người thành Đạo thưa thớt, cái duyên cớ ấy bởi đâu? “Trước phải có căn khí Đạo, kế đó phải đọc sách nhiều, sau rồi phải sớm gặp thầy. Căn khí chẳng cao thì không mong gì xuất thế được, đọc sách chẳng nhiều thì không thể thấy lý mà nhìn biết, không sớm gặp thầy thì nhầm vào bàng môn”.
“Bằng trong ba điều đó mà sót lấy một, chắc khó mà thành Đạo. Nếu bảo rằng lời ta có gì sai, thì xin hỏi lại các ngài nơi bồng đảo”.
Căn khí chẳng cao thì long đong lận đận, nhìn mà không biết thì mịt mịt mù mù, thầy không sớm gặp thì vô ích thất công, mà đường Đạo khó lại thêm khó.

2. LÝ

Đạo chỉ có một, ở trên trời nơi cao nhất gọi là mệnh (là cái định sẵn nguyên thủy ban đầu), ở dưới chung cho sự vật gọi là lý (qui luật tự nhiên), ở con người gọi là tính (thiên tính riêng biệt của con người). Lý thể hiện ở mọi sự vật, hiện tượng, mọi nơi, mọi lúc. lý trở thành qui luật tự nhiên vốn có.
Người quân tử hay lấy lý mà xét, nên công chính, sáng suốt, đúng lẽ, mà từ đó hiểu rõ được sự vật hiện tượng. Cũng từ đó mà không tư vị, thiên lệch, mà rối loạn, mà sai chân lý.
2. Lý là qui luật, khí là sự vận động của qui luật, cho nên khí lộ mà lý ẩn. Hình là biểu hiện của qui luật, cho nên hình lộ mà khí ẩn. Vì vậy khí thể hiện ra qui luật, mà hình lại là kết quả của qui luật, từ đó biểu lộ ra ngoài. Lý do tĩnh thì bao giờ cũng là khách quan, khí do vận động mà dễ chủ quan, cho nên khi mới nghĩ là khí xuất hiện, là phải tĩnh để không rối loạn.
Điều gì là khách quan thì nên tiếp tục, điều gì chủ quan nên bỏ ngay. Có như vậy mới giữ được lý (qui luật tự nhiên), mà cái nhân dục chủ quan tự nhiên mất.
Lý muốn hiểu được, phải dụng tâm mà hiểu cho trọn, vì vậy tâm lầm là lý sai (dụng tâm là tĩnh lặng chiêm nghiệm trong tâm. Không bị rối, thì lý tự nhiên tới).
Cũng vì vậy mà phải phân biện được ở trong tâm, tránh lầm lạc để giữ được khách quan.
3. Thánh nhân có nói rằng:
Thương thì muốn nó sống, ghét thì muốn nó chết. Đó là một sự lầm.
Nhân một hồi nóng giận quên thân mình, quên luôn người thân thích nữa, chẳng phải lầm sao?
Do theo lời nói trên của thánh nhân mà bàn rộng ra:
Khi mình gặp cảnh ngèo nàn, lại mong cầu giàu sang, cũng là lầm.
Người không đến học, mà lại mong sang đạy người ta, cũng là lầm.
Cái Đạo thánh hiền, phải chờ người xứng đáng, mới thi hành được. Nay muốn cho bọn tiểu nhân, chẳng phải lầm sao?
Việc có cái mà mình không thể nào làm nên, vật có cái mà mình không thể nào có được, nhưng toan tính hoài trong tâm cũng là lầm.
Người ta có kẻ không thể theo mình, việc có phần chẳng thể làm nên vội gấp, nhưng cứ bo bo lo lắng, chẳng phải lầm sao?
Phận sự của mình bây giờ chẳng làm, mà phát sinh ý muốn bông lông ra ngoài, đó là lầm vậy.
Lời thánh nhân chẳng sợ, mà tưởng đến việc tà tây của bọn vô Đạo, không phải lầm sao?
Biết rõ một điều lành là “Trung” mà chẳng chí trung (thực hiện chữ trung đó), biết rõ muôn phép do tâm mà chẳng liễu tâm, (dọn sạch cái tâm mình, xét thấu cái tâm mình) ấy là lầm.
Biết rõ cái tử là việc lớn mà chẳng nhận là bản thể tự tính mà không tự sinh (vô sinh), biết rõ vô thường đến chóng, mà chẳng tìm hiểu nó vốn chẳng mau chậm (vô tốc), không phải lầm sao? (Thể tức vô sinh, liễu bồ vô tốc, pháp bảo đàn kinh – Khoảng Giác Huyền thiền sư).
4. Lý là sẵn có, khơi ra thì tự nhiên có. Dục là vốn không, hằng bỏ sẽ tự nhiên không. Nén dục gìn lý chẳng phải là hai việc riêng nhau. Hễ nén được một phần dục, là gìn được mười phần lý.
Lợi cho người có gì hơn lý, mà người gìn giữ lý thì ít. Tổn cho người có gì hơn dục, mà người buông theo dục lại nhiều.
Người có lòng dục cũng như cây có sâu ăn rỗng trong ruột, chẳng bao lâu thì cây phải chết. Người ta lấy dục làm vui mà chẳng biết dục là lửa vậy, chẳng dập tắt nó thì nó sẽ thiêu cháy mình. Thần hồn bị nó chưng khô, tửu sắc làm hao tinh khí, sinh bệnh sinh ghẻ, ngày đêm rên siết. Nhà phù đồ gọi chết rồi sau mới chịu tội, mà chẳng rõ sinh tiền đây đã chịu tội trước rồi.
5. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: Chu Tử có nói: “Minh bất chí ắt nghi sinh, minh vô nghi giã”, nghĩa là rõ chẳng tới nơi tới chốn, ắt sinh lòng ngờ vực. Hễ rõ được rồi thì chẳng ngờ vực.
Kẻ nhiều năm khảo cứu nghĩa lý mà còn chưa nhìn được lý cho chính chân, làm theo lý cho phải phép, huống hồ kẻ không có công học vấn.
Người thế nhờ minh lý mà bảo thân vẫn nhiều, vì tranh lý mà táng thân cũng chẳng phải ít, cho nên thiền gia cho lý là chướng ngại”.

3. THIÊN ĐỊA(TRỜI ĐẤT)

Đại Đạo vô hình, trời đất là Đạo hữu hình. Trời đất không nói ra lời. Thánh nhân là trời đất nói ra lời. Thánh nhân ta không gặp mặt được, chứ không phải là không thấy kinh sách. Thấy kinh sách mà rõ được nghĩa lý thì có khác gì gặp thánh nhân đâu?
Trời sinh hình thể ta, trời phú bản tính ta, tất cả đều là của trời, thì ta đâu dám nghịch. Ta ở trong cảnh trời, Trời ở trong tâm ta. Ai thấy trời đất mà theo cái thanh tịnh, thì đối với cái đại Đạo không hai. Hình thể có bản tính thiên nhiên, theo tự nhiên mà hành, thì không bị luỵ về nhân dục. Việc làm mỗi ngày có phép nhất định, giữ nguyên mà hành thì ắt khỏi lỗi bởi trái quy.
Một động một tĩnh, Đạo của người luôn luôn cùng trời đất tương hợp. Một hô một hấp, cái khí của người bao giờ cũng cùng trời đất tương thông.
2. Thường thấy mặt trời lặn xuống đất là cái tượng trưng Tâm hỏa giáng. Còn cái mặt trăng mọc giữa trời là biểu hiện Thận thủy tăng. Ngửa mặt lên sao ngôi Bắc thần, tuy thấy nó ở một chỗ, mà các vị tinh tú đều chầu xung quanh. Ngôi này còn gọi là Thiên xu, tức then chốt của trời.
Trời đã có then chốt lấy đó làm căn bản cho tạo hóa. Người cũng có then chốt, lấy đó làm nguồn gốc cho tính mạng. Cũng thời trời người như nhau, mà có người gọi là đại nhân, ấy là đức mình hợp với đức của trời đất vậy. Thử xét xem tâm ta và tính ta hợp với trời đất là bao nhiêu, chỗ nào hợp thì cố gắng thêm, chỗ nào không hợp thì mau sửa đổi. Như thế thì lo gì không làm đến bậc đại nhân.
Trời sinh, đất thành là đại phụ mẫu của chúng ta. Trời động đất tĩnh là đại sư giáo của chúng ta. Thánh hiền đã qua là con thảo của trời đất, còn thánh hiền sẽ đến là cháu hiền của trời đất. Ai hay yêu cha mẹ mình thì đức lớn sẽ được mạng trời làm vua (như vua Thuấn) hoặc đăng ban đại Đạo (hưởng danh đại Đạo). Ai hay kính thầy dạy mình thì học được từ bậc thấp đến bậc cao.
3 Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Người không sợ Trời là vì thấy trời ở xa”. Cái điểm quan trọng của bài này, bất quá là có một câu trời ở trong tâm ta. Con người nếu thật biết rằng Trời ở trong tâm mình dám không sợ sao? Dám không kính sao? Sợ kính lâu ngày thì mới minh tâm, có thể minh tâm, có thể kiến tính, có thể thành Phật, có thể làm Tổ. chỉ lo có một điều là biết rồi lại quên rồi đó thôi.
Con người muốn đạt Đạo chẳng qua cùng trời đất hòa một mà thôi.

4. NHÂN SINH(CON NGƯỜI)

Nhân sinh là sự sống của con người được gọi là thái cực (lúc hỗn mang là vô cực, sự sống sinh ra là thái cực). Thái cực động thì sinh dương làm hỏa, hỏa là Thần, Thái cực tĩnh thì sinh âm làm thủy, thủy là Tinh. Thần hỏa, Tinh thủy hợp đúng phép thì kết làm căn bản cho nguyên khí ở Đan Điền (khoảng giữa hai quả thận, thực chất là ở hạ tiêu bụng dưới), từ đó làm cội nguồn cho sự tồn tại.
Chúng ta trước khi sinh ra, khí chất (tiên thiên) Thanh – Trọc là do trời phú, chứ không phải con người. Mà khi đã sinh rồi cái nhân phẩm (hậu thiên) Tà – Chính do con người tạo ra cho mình, chứ không phải trời nữa.
Trời đất sinh người, hạng Thượng trí ít mà hạng Hạ ngu cũng ít, duy bật Trung nhân rất nhiều. Trung nhân hay tự cường, cùng Thượng trí sẽ đồng bậc. Trung nhân mà tự khí liều thân, vô dụng, cùng họ ngu chẳng khác gì.
Nay người ta chỉ biết mình là nhờ cha mẹ sinh ra, mà chẳng biết ta và cha mẹ ta, cùng trời đất, đều nhờ Đạo mà sinh ra. Cho nên người quân tử trước phải cầu Đạo, rồi mới không hổ với trời đất, thẹn với cha mẹ.
Tử Cống nói rằng: “Cái Đạo của vua Văn, vua Vũ chưa sa tới đất (mất đi), còn ở người”. Chẳng phải nói người đời Xuân Thu mà thôi, cũng chỉ người đời nay vậy. Chẳng phải nói người đời nay mà thôi, cũng chỉ người đời sau nữa.
Bởi vậy: Nhất nhân sinh lai hữu nhất thân
Nhất thân giai hữu nhất Chân thân
Chân nhân linh diệu thông thiên địa
Chân nhân thanh tịnh vô ai trần
Chân nhân tự cổ bất tăng giảm
Chân nhân tùng lai mạc tử sinh
Đản nâng dưỡng đắc Chân nhân tựa
Thắng như bầu tử hoạch vạn cân.
Nghĩa là: Mỗi người sinh ra có một thân
Một thân đều có một Chân nhân
Chân nhân linh diệu thông trời đất
Chân nhân tịnh thanh dứt bụi trần
Chân nhân từ trước không tăng giảm
Chân nhân đến nay chẳng tử sinh
Chỉ lo dưỡng được Chân nhân ấy
Hơn kẻ khó nghèo gặp vàn cân.
Mạnh Tử nói rằng: Chỗ con người ta khác với loài cầm thú, chỉ có một chút. Kẻ tiểu nhân bỏ ra, còn người quân tử giữ lấy chút ấy. Chút ấy là Chân tính, hoặc gọi là Chân nhân cũng được. Giữ nó thì thành Thánh, thành Hiền, bỏ nó thì làm cầm làm thú. Đương lúc bỏ nó ra, tức thì biến làm cầm thú (biến tự trong tâm) chẳng phải đợi chết rồi hay là đến kiếp sau.
Như nay trời có ngũ hành là: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Chẳng ngừng gọi là Hành. Nếu ngừng một chút, thì hết gọi là Hành nữa.
Như nay người ta có ngũ thường là: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Chẳng biến đổi gọi là Thường. Một niệm vừa biến, thì không gọi là Thường nữa.
Nhưng ngũ Hành, ngũ Thường này đều có đủ trong mình ta, tức là ngũ tạng: Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận. Ngũ tạng đây là gốc lớn sinh con người. Nếu phạm đến gốc lớn này thì không thể nào sống được. Cho nên thầy thuốc sành nghề trị bệnh thì trước phải điều hòa ngũ tạng.
Trong quan hệ hằng ngày thì gọi là Ngũ luân: Quân thần, Phụ tử, Phu phụ, Huynh đệ, Bằng hữu. Ngũ luân này là cái Đạo thông thường trong thiên hạ. Bỏ cái Đạo thông thường này thì còn gì là con người nữa. Cho nên các Tiên vương dạy người thì trước lo chỉ rõ cái lý Ngũ luân. Còn người đời nay có kẻ quên thân thể, bỏ Nhân luân để mà cầu Đạo. Thật họ chẳng biết cái sai đó. Kẻ thế thấy vậy thất kinh lấy làm quí lạ, mà tôn sùng hạng người ấy, thì cũng là không biết cái sai đó nữa. Than ôi! Chân – Giả bất phân, Nhân sinh khó tỏ vậy nên Người theo Đạo nên kiên gan trì trí mới mong có ngày sở đắc mà thôi.
Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Khí bẩm có thanh trọc là do nơi Trời, nhân phẩm có tà chính là do nơi mình. Chỗ này nói ra được rất hay. Một lúc có ngừng không thể gọi là hành. Một niệm vừa biến không thể gọi là thường. Chổ này nói ra được lại càng hay hơn nữa”.

5. LÃO(GIÀ)

Người đều nói: Người tới 60 tuổi, mỗi năm thấy già hơn một chút. Người tới 70 tuổi, mỗi tháng thấy già thêm một chút. Người tới 80 tuổi, ngày ngày đều thấy già thêm. Nghĩa là: Càng lớn tuổi càng thấy mau già.
Ta (Dưỡng Chân nhân)nay đã trên 80 tuổi, thì còn làm gì nữa? Từ đây về sau sống thêm được một ngày, ấy là Trời ban ơn cho một ngày, dám để cho nó mất đi sao?
Nay dẫu đắc Đạo, cũng đã muộn rồi, há dám để muộn thêm nữa sao?
Xưa kia ba ông già bàn đến việc vô thường.
– Có một ông già nói rằng:
Kim niên tửu tịch diện tiền hội
Bất tri lai niên hựu thiếu thuỳ?
Nghĩa là:
Năm nay tiệc rượu cùng ăn uống
Chẳng biết sang năm, thiếu mặt nào?
– Ông già khác lại nói: Ông nói xa vời lắm!
Kim vãn thoái hạ hài hoa miệt
Bất tri thiên minh xiêng bất xiêng?
Nghĩa là:
Tối nay giày tất cởi ra hết
Chẳng biết sáng ngày, xỏ lại không?
– Ông thứ ba lại nói: Ông nói cũng còn xa!
Giá khẩu khí ký nhiên xuất khứ
Bất tri tán lai, bất tán lai?
Nghĩa là:
Hơi thở này đây vừa khỏi miệng
Chẳng hay trở lại hoặc đi luôn?
Người trí chẳng để mất ngày giờ, kẻ dũng chẳng để tính hai lần. Ngày nay biết Đạo thì ngày nay phải hạ thủ. Nếu nói: Nay chưa rảnh để chờ ngày khác, thì e cho tới chừng muốn thi hành, lại không đủ ngày giờ mà thi hành nữa.
Con người có Tam bảo: Tinh – Khí – Thần. Đến khi già rồi thì tinh khô, khí tán, thần lìa. Tinh làm sao chẳng khô, có phải xa sắc chăng? Khí làm sao chẳng tán, có phải ít nói chăng? Thần làm sao chẳng lìa, có phải vô dục chăng?
Thần chẳng phải ép cầm ở lại được. Tâm tức (ý nghĩ và hơi thở) nương nhau, thì thần tự nhiên ở lại.
Khí chẳng khá hao tán. Chớ hay nói, giữ mực “trung” thì khí chẳng tán.
Tinh chẳng há lọt mất. Đem tinh bổ não, thì tinh chẳng lọt.
Có kẻ hỏi: Người già khí huyết đã suy, làm sao mà bổ nó được!
– Trả lời: Càng thận trọng lời nói có thể bổ Phế. Ăn uống độ lượng có thể bổ Tỳ. Tuyệt hết tư lự có thể bổ Tâm. Trừ bỏ giận hờn có thể bổ Can. Đoạn dứt dâm dục có thể bổ Thận.
– Xin chỉ thêm cho rõ.
– Trả lời: Chẳng lo không bổ, duy lo bổ mà rồi lại tổn. Cho nên tôi thường nói: Một trăm ngày bổ mà chẳng thấy có dư, một mai tổn rồi thì liền nghe chẳng đủ. Mùa xuân xem cây cỏ, nhành lá xum xuê. Đến cuối thu, lá rụng sự sống về cội. Nhờ về cội mà cây chẳng chết, nên xuân tới nhành lá lại nẩy sinh.
Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Tâm tức nương nhau, chớ hay nói, giữ mực trung, đem tinh bổ não thì tam bảo bền chặt. Cẩn thận lời nói, ăn uống độ lượng, tuyệt hết tư lự, trừ bỏ giận hờn, đoạn đứt dâm dục, thì ngũ tạng đủ đầy. Tam bảo đã bền chặt, ngũ tạng lại đủ đầy, có lý nào chẳng đạt diên niên ích thọ hay sao?”
Cứ đây mà xét, thì sinh sinh chẳng cùng là Đạo của trời vậy. Thứ nào về cội nấy là lý của mọi vật. Biết lý này mà chẳng trái với Đạo này, thì có phải chỉ có bậc chân nhân không? Cho nên nói: “Chân nhân chi túc”, tức là trở về cội, tĩnh tại để dưỡng cái gốc sinh.

6. BỆNH(ĐAU)

Bệnh do đâu mà sinh? Đều bởi vọng tưởng mà sinh phiền não. Phiền não đã sinh thì phía trong thương tâm. Tâm bị thương thì không dưỡng được Tỳ, cho nên không thèm ăn. Tỳ hư thì khí ở trong Phế kém, cho nên mới sinh ho hen. Ho hen thì thủy khí (Thận) tuyệt dần, cho nên mộc khí (Can) chẳng xung, tóc đỏ gân bại. Bệnh truyền khắp ngũ tạng thì con người phải chết.
Nguyên nhân chính gây ra bệnh chính là sự phiền não phát sinh nơi tâm. Tâm vọng tưởng ưu tư nhiều, càng vọng tưởng suy nghĩ nhiều càng loạn, càng khó dứt, cho nên thành ra phiền não. Cũng từ đó mà tổn thương Tâm, sinh ra rối loạn sinh hoạt mà Tỳ hư, Vị kém, từ đó mà Phế suy ho hen, rồi Thận nhược dần, rồi Can yếu ớt, ngũ tạng liệt dần, mà tam bảo tiêu đi, cái chết ập đến. Than ôi! Đèn khô dầu hết, mất rồi mà chẳng hiểu vì đâu. Đáng thương thay!
Con người đang lúc vọng tưởng mới động, tức là lúc tật bệnh mới phát sinh. Người nay chẳng xét, chờ có đau nhức trong mình, mới cho là có bệnh mà không rõ cái nguyên nhân của nó phát sinh ra chẳng phải một hôm, một mai gì. Kỳ thật, bệnh đã dần dần đến với mình.
Bệnh đã phát, đã đau, đã cuống, thì đã quá muộn. Vì bệnh đã tới từ lâu.
Bởi vậy:
Từ một vọng tưởng phi Chân,
Bệnh xuất hiện gieo mầm sự chết.
Trong tột cùng của nỗi tuyệt vọng
Có ai hay cái chết bắt đầu từ lúc Tâm Ma?
3. Bên ngoài cái thân của con người, thì có Lục dâm là: Phong, Hàn, Thử, Táo, Thấp, Hỏa (gió, lạnh, bức, khô, ướt, nóng).
Còn phía trong thì có Thất tình là: Hỷ, Nộ, Ai, Lạc, Ưu, Khủng, Kinh (mừng, giận, buồn, vui, lo, khiếp, hoảng).
Do thất tình mà bệnh nội thương, đó là chứng bất túc (chẳng đủ).
Do lục dâm mà bệnh là bệnh ngoại cảm, đó là bệnh hữu dư (có thừa).
Bất túc là bệnh hư tổn, thiếu sức, thì phải bổ. Hữu dư là bệnh nhiễm tà khí ở ngoài, thì phải tả.
Khí huyết hậu thiên thuộc về hữu hình, thọ thương mà bị bệnh, nếu chẳng phản quán tĩnh dưỡng thì chẳng mạnh được.
Bệnh có nhiều nguyên nhân: ăn sai, uống quấy, trời loạn, đất hư, người chèn, vật ép… nhưng chính vẫn là hai nguyên nhân: nội thương thất tình làm hao tổn chân nguyên mà sinh bệnh, và ngoại cảm lục dâm làm vượng loạn mà sinh bệnh. Bởi vậy nội thương thì phải bổ, ngoại cảm thì nên tả mà chữa.
Khí huyết là hữu hình (thực) hay theo tâm phóng ra ngoài cho nên dễ bị bệnh. Nếu không đem tâm trở lại để tĩnh dưỡng, thì chữa làm sao? Cưỡng cầu mà chữa cũng chỉ là vá víu tạm thời, rồi lại bị chết nhanh hơn mà thôi. Ôi chỉ là hoài công uổng mạng. Thật đáng thương!
Danh y chữa bệnh thân người, chứ không chữa được bệnh tâm người. Tâm bệnh chỉ do thánh nhân khai sáng mới hết. Thể đã bệnh, thì Tâm cũng bệnh, mà thực ra Tâm trước Thể sau. Bởi vậy khi bị bệnh phải xét cả Tâm lẫn Thể, rồi phải chữa cả Thể lẫn Tâm. Thương thay! Vô tâm, vô thân tất hữu bệnh, hữu họa mà thôi.
Thường tưởng lúc bệnh, ắt tình trần dần thấy giảm. Thường lo ngày chết, thì lòng Đạo tự nhiên sinh.
Xưa kia, Tử Nguyên có bệnh tim, gặp một vị cao tăng nói rằng:
– Bệnh của Ngài khởi tại phiền não, mà phiền não sinh nơi vọng tưởng.
Vọng tưởng có 3 thứ:
a. Hoặc nhớ đến sự sang hèn, ân oán một vài chục năm trước, cùng các thứ tình tự vẩn vơ khác. Đây là quá khứ vọng tưởng, nghĩa là vọng tưởng về sự qua rồi.
b. Hoặc việc xảy ra trước mắt, có thể thuận theo, mà lại cưỡng cầu, nảy sinh ra ý kiến nọ kia, dụ dự chẳng quyết. Đây là hiện tại vọng tưởng, nghĩa là vọng tưởng về việc bây giờ.
c. Hoặc trông mong ngày sau giàu sang theo như lòng sở nguyện, hoặc trông mong con cháu vinh quang kịp thời, cũng là những việc không thể nên được, không thể có được. Đó là vị lai vọng tưởng, nghĩa là vọng tưởng về sự xảy đến.
Ba thứ vọng tưởng này khi sinh, khi diệt. Thiền gia gọi là huyễn tâm, hãy xét thấy chỗ vọng này, thì nó liền tiêu diệt, Thiền gia gọi là giác tâm.
Cho nên nói: “Chẳng lo niệm sinh ra, duy sợ giác quá muộn; niệm sinh ra là bệnh, niệm không tiếp tục là thuốc”.
Vị cao tăng lại nói rằng: “Bệnh của Ngài cũng là thủy hỏa bất giao. Phàm nịch ái giai nhân mà làm việc hoang dâm, đó là cái dục ngoại cảm. Hoặc đem tư tưởng giai nhân mà thành ra mộng di tinh, đó là cái dục nội sinh. Nhiễm lấy hai cái dục này thì hao tốn nguyên tinh. Nếu bằng đoạn nó được, thì Thận thủy tự nhiên được tươi nhuần, mới có thể giao lên với Tâm.
Còn tư tưởng thì kiếm chữ nghĩa, bỏ ngủ, quên ăn gọi là lý chướng. Lo lắng về chức nghiệp mà chẳng kể gì cực nhọc, gọi là sự chướng. Hai điều này thật chẳng phải là nhân dục, mà cũng hao tổn tính linh. Nếu hòa hoãn mà làm mọi việc, thì Tâm hỏa chẳng lên đốt nóng, mới có thể giao xuống cùng Thận thủy. Cho nên lục trần chẳng hiện duyên cảnh, lục căn không chỗ phối hợp trở ngược về một nguồn, thì lục thức không còn đi ra ngoài nữa. Tự nhiên vô bệnh, vô họa”
Tử Nguyên y theo lời, ở riêng trong nội thất, dẹp sạch muôn duyên, ngồi tĩnh trong một tháng, thì hết bệnh.
Cho nên:
Tự gia hữu bệnh, tự gia trị
Kỷ tri tu yếu thọ thời y
Thoảng nhược kỵ y chung uý bệnh
Vô thường lâm giáo, hối truy tri.
Nghĩa là:
Tự mình có bệnh tự mình hay
Đã biết thì tự chữa trị ngay
Bằng sợ thuốc này, dấu bệnh nọ
Vô thường đến viếng hối đã chày!
Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: Có câu ngạn ngữ “Tâm bệnh khó chữa” chẳng phải là khó chữa, tội là chẳng biết được phép, chẳng theo phép đó mà thôi.
Tam giáo thánh nhân giỏi trị tâm bệnh, một lời nói có thể làm kim chỉ nam cho kẻ mang tâm bệnh. Mà có ai tin theo đâu, ai làm theo đâu?!
“Xưa kia làm quan giữ cửa ải, tôi mang chứng tỳ hư, hạ tiết (tỳ yếu, đại tiện lỏng), thở hơi yếu ớt, uống thuốc nào cũng không thấy hiệu nghiệm, muôn phần không thể sống lấy một. Tôi bèn phế hết nhân sự ngồi tĩnh dưỡng phản quán, thung dung xem bộ Tâm kinh. Một trăm ngày đọc luôn cuốn kinh thì bệnh tôi liền mạnh”.
Đó là phương pháp kỳ diệu tôi đã kinh nghiệm, nên mới dám đem ra mà công bố với ai là người có bệnh trầm trệ như tôi.
Tâm làm sao mà bị bệnh? Cũng bởi tâm vọng mà ra, vọng tưởng tới lui mà tâm huyễn hoặc, loạn tâm sinh bệnh. Giác tâm rồi, hết vọng tâm an. Bởi vậy diệt vọng niệm là tiên dược trị tâm.
Bỏ dục ngoại cảm, trừ dục nội sinh, quên lý chướng, không màng sự chướng, thì hỏa không động, âm không vong, mà giao hòa Thái cực, để lục trần không cuốn, lục căn chẳng nhập, thì lục thức toàn chân, Thiên chân phát lộ, đắt Đạo thành tiên.
Ôi! Một bộ Tâm kinh trăm bệnh đều khỏi. Một tấm lòng Đạo vạn họa cũng qua.

7. TỬ(CHẾT)

1. Con người đương lúc khí huyết cường tráng, cái chí buông lung, thuận theo lục dục, thì chẳng có điều gì không dám làm. Đến khi khí huyết thọ hại, trăm bệnh nảy sinh, thì giờ chết sắp đến. Dẫu có con cái đầy nhà thế cũng chẳng được, vô số tiền bạc lo cũng không kham. Tới chết mới ăn năn thì việc cũng đã rồi.
Ai không sợ chết, mà phải sợ trước khi chưa chết. Nếu chờ tới giờ sắp chết mới sợ chết, thì chết khó mà khỏi được.
Ai không sợ bệnh, mà sợ bệnh trước khi chưa bệnh. Nếu đợi tới lúc mang bệnh mới sợ ắt bệnh khó mà trị được.
Thử xem trong thiên hạ, có vật gì trọng hơn tính mạng nữa không? Thử xem trong thiên hạ có cái gì lớn hơn sinh tử nữa không? Chẳng có người nào không ham sống, nhưng lại chẳng ham cái Đạo trường sinh. Chẳng có người nào không không ghét chết, nhưng lại chẳng ghét việc làm giục cái chết. Nếu vậy thì chết cũng là đáng mà thôi.
Con người ở trên thế, việc này nối việc kia, phải chờ chết mới hết việc. Nếu chờ tới lúc sắp chết, thì có phương pháp nào mà tránh khỏi cái chết được? Chi bằng sớm kiếp hồi tâm, đem mọi sự trần duyên buông bỏ hết một lược, làm người trường sinh xuất thế, chẳng là hay hơn sao?
2. Có kẻ hỏi: Trần duyên vương vấn, lâu tháng dài năm, một mai buộc phải buông bỏ hết, chẳng là khó lắm chăng?
– Trả lời: Chỉ tại người chẳng muốn buông bỏ, cho nên nói khó. Chứ coi như chết rồi, có gì mà không buông bỏ chăng? Nay tuy chưa chết, phải coi như chết rồi, buông bỏ hết một lượt, thì có gì không hay?
– Lại hỏi: Buông bỏ là buông bỏ cái gì?
– Buông bỏ cái nguyên nhân sinh ra Tứ đại, Ngũ uẩn, Tỉnh thức.
Người chân tu, giống như kẻ chết hẳn một phen rồi sống lại mới là tốt.
Người chết hẳn là người không bị thế gian vấn vương, không có Đạo lý gì huyền diệu kỳ dị cả, phải trọn yên tĩnh như thế mới là phải.
Câu “sớm mai nghe Đạo, chiều chết cũng đành” là Đức Phu Tử dạy người rất cấp thiết, vì Ngài cho rằng “Bậc Thượng sĩ nghe Đạo, trong khoảng khắc liền thoát sinh tử.”
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng:
Người xưa nói:
Cử thế tận cùng, mang lý lão
Thùy nhân khẳng hướng, tử tiền hưu
Nghĩa là:
Người thế bôn ba, già mỏi sức
Mấy ai thấy chết, chịu dừng chân.
Nếu có kẻ thấy cái chết trước mặt kia mà dừng bước lại, thì chẳng những hoãn được sự chết, mà còn có thể thoát khỏi sinh tử nữa.

8. KHỔ

1. Con người ta chỉ có một chữ ái (ưa mến), mà không trừ bỏ đi được. Mến danh lợi thì bị danh lợi ràng buộc, mến tửu sắc thì bị tửu sắc ràng buộc, mến thân gia (thân mình, gia đình, nhà cửa) thì bị thân gia ràng buộc, mến con cháu thì bị con cháu ràng buộc.
Nó đem chân tính ràng qua buộc lại, điên đảo đảo điên, lên xuống cõi nhân gian hoài, mà chịu không biết bao nhiêu sự khổ.
2. Chân tính thọ phụ tinh, mẫu huyết, mới kết thành thai.
Cái y bào (cái bao bọc đứa nhỏ trong bụng mẹ) cũng như khám tối, câu thúc thân hình. Hễ mẹ ăn món nóng, như nước sôi đổ vào mình, Hễ mẹ ăn đồ lạnh, như nước đá tẩm đẩm thân thể.
Đến lúc khí đủ thai đầy, thì phải tung mà ra cho kịp. Vậy trước phải công phá cái y bào, vài ngày cái bọc đó mới rách.
Người ta chỉ biết cái thống khổ của người mẹ chuyển bụng, mà chẳng biết đứa con cũng chịu khổ vô cùng.
Tới khi sinh ra rồi, đứa con khóc oa oa lên một tiếng, thì cái khổ ở trong thai dứt từ đó.
Cái khổ với thân này lại tiếp theo liền. Trong thì lo đói khát, ngoài thì sợ nóng lạnh, biến ra các thứ đâu đâu, nối nhau mà tới. Đó là cái khổ lúc còn nhỏ.
Tới chừng nên người, lại có sự nghiệp. Làm vua chúa thì phải lo cho xã tắc, là kẽ sĩ thứ thì phải lo cho thân già, ngày đêm lao khổ, nằm ngồi chẳng an. Năm thứ hỏa đều dấy động, đốt hết khí thiên hòa, thì tất bệnh theo bên mình chẳng ngớt.
Con người ta trước chịu cái khổ bệnh, sau tới cái khổ chết, cuối cùng có cái khổ báo ứng, muôn kiếp luân chuyển, không lúc nào ngưng, bởi vậy quay đầu là bờ vậy.
2. Thích giáo nói rằng: Ai biệt ly khổ, oán tằng hội khổ, cầu bất đắt khổ, nghĩa là: Thương nhau mà lìa nhau là khổ, ghét nhau mà cùng nhau là khổ, có việc cầu xin mà không được là khổ.
Nay người chịu khổ não đều là mình làm mình chịu.
Có kẻ đã lớn không biết mà vào chỗ khổ, lại có kẻ biết rõ là khổ mà cũng không thoát khỏi được, đáng thương thay!
3. Ngạn ngữ nói rằng: Chớ nói cưới vợ sớm, cưới vợ rồi sẽ có việc khó! Chớ nói thi đỗ cao, thi đỗ rồi sẽ chịu nghiệp to! Chớ nói cày cấy no, cày cấy rồi sẽ gặp khổ nhiều! Chớ nói người tu sướng, người tu rồi mới biết tâm khổ.
Có kẻ hỏi: Cái khổ ở người thế phần nhiều ở thân thể, còn cái khổ của người học Đạo chỉ ở trong tâm.
Không có dây mà tự mình trói buộc, không có việc mà tự mình lật đật, muốn thâu thâu chẳng lại, muốn phóng phóng chẳng đi. Vậy phải làm sao?
Kẻ học chưa được chân truyền nên mới chịu khổ như vậy.
Nếu được chân truyền, thâu hay phóng đều tại nơi ta, thì có gì khổ nữa?
Huống hồ học Đạo là cái pháp môn an lạc.
Phàm theo Đạo mà nói khổ, tức là ngoại Đạo rồi.
4. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Người thế thường đàm luận, rằng con người lúc ra khỏi lòng mẹ, sao cũng khóc oa oa vài tiếng, thì đủ thấy từ đó về sau, đều là cảnh khổ.
Tôi lại nói: chẳng phải vậy. Bởi mê thất chân tính, lòng muốn chẳng toại, cho nên trăm khổ dồn dập.
Nếu chịu hồi tâm hướng Đạo, muôn vật đều có đủ trong mình ta, thì có cái vui nào lớn bằng! Làm sao mà khổ?”

9. TÍNH MẠNG

1. Người mới học vào Đạo, trước phải hiểu hai chữ tính, mạng. Tính có nguồn ở tâm thức, mạng có gốc là chân tức (tức là khí). Gốc mạng phải vững bền, nguồn tính phải trong sạch.
– Có kẻ hỏi: Nguồn tính làm sao mới trong sạch?
– Trả lời: Trong ngoài đều quên là trong sạch.
– Gốc mạng làm sao mới vững bền?
– Trả lời: Thần khí giữ nhau thì mạng vững bền.
Tính ấy là thần. Mạng ấy là tinh với khí.
Trong Thái cực đồ có nói: Vô cực chi nhân, nhị ngũ chi tinh, hai cái họp lại đúng phép thì ngưng tụ, mới có con người sinh ra. Cái ta gọi là tính đây là vô cực chi Chân (chân nhân tính trong khí vô cực), còn cái ta gọi là mạng đây là nhị ngũ chi tinh (nhị ngũ chi tinh là cái tinh ba trong hai số ngũ, ấy là khí Mậu thổ lão dương hợp với khí Kỷ thổ lão âm tại cung Khôn, gọi là Địa thập thành chi, kết thành Đại khuê).
2. Vô Dịch Tử nói rằng: Tính ở trong tâm. Tâm không một phần thì tính hiện một phần, Tâm không mười phần thì tính hiện mười phần. Tính hiện tức là tính tận (quang minh) rồi. Vậy thì dứt niệm tưởng là cốt để tận tính. Tính tận một phần thì thần khí ngưng tụ một phần, Tính tận mười phần thì thần khí ngưng tụ mười phần. Công phu của người học Đạo chẳng có chi khác, bất quá là ung dung mà đạt tới chỗ đó thôi. Đại khái công phu là ở chỗ dứt niệm tưởng tâm tức nương nhau.
Phép này rất nhanh chóng là tại sao?
Khí là mẹ của thần, thần là con của khí. Tâm tức nương nhau như mẹ con gặp nhau. Thần khí dung hòa, thành ra một, sẽ thành đại định. Đó gọi là Đạo.
Vì vậy “Qui căn phục mạng, căn thâm đế cố, trường sinh cửu thị” (trở về gốc để hồi lại mạng, gốc sâu rễ chắc được mạng lâu dài).
Hà Tiên Cô nói rằng: Hơi thở còn bệnh thì mạng chẳng phải của ta.
Ta lại nói rằng: Tâm còn chưa quên thì hơi thở chưa thể định được.
3. Con người có thiên tính và khí chất tính. Thiên tính là toàn thể thái cực, hễ phân ra âm dương, ngũ hành thì hóa ra Khí chất tính, tức là cái thực thể của Thái cực ở trong Khí chất, chứ không phải là một Tính riêng nào khác.
4. Trương Tử nói rằng: Biết phản quán trở lại thì Thiên khí còn.
– Có kẻ hỏi: Biết phản quán, có Đạo chăng? (có phương pháp chăng?).
– Trả lời: Có.
Nho nói: Tẩy tâm thối tàng ư mật (rửa lòng trở về chỗ kín mật). Phật nói: Quán tự tại (xem vào chỗ tự tại bất động). Lão nói: Phục qui ư phát (trở lại nơi nguyên phát). Đây là giai đoạn đầu của phép phản quán.
Nho nói: Tư chí như hậu hữu định, định nhi hậu năng tịnh (Biết chỗ kết thúc, sau mới quyết, có quyết có định mới tĩnh lặng tâm). Phật nói: Chiếu kiến ngũ uẩn giai không (gặp cảnh bát nhã, soi thấy ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), đều là không. Lão nói: Qui ư anh nhi (trở lại trẻ thơ). Đây là giai đoạn tiếp theo của phép phản quán.
Nho nói: Vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã (không có ý riêng, không vị tất cái này cái kia, không cố chấp, không thiên lệch về mình). Phật nói: Vô nhãn vô nhĩ, vô tỷ, vô thiệt, vô thân, vô ý (không có mắt, không có tai, không có mũi, không có lưỡi, không có thân mình, không có ý thức). Lão nói: Phục qui vu vô cực (trở lại vô cực). Đây là giai đoạn cuối của phép phản quán.
5. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: Tính người vốn lành, mà nếu không lành là do tính Khí chất.
Biết nó là tính khí chất mà không để nó điều khiển mình, là phương pháp biến đổi Tính khí chất.
Bởi vậy:
Bát thập ngũ tuế đại lão hán
Hằng nhập tĩnh toạ vô sự can.
Đạo nghĩa minh liễu vô đề thuyết.
Kinh thơ kiến liễu lãn đài khán.
Thức đắc nhất tính thị chủ tể.
Chiếu phá vạn duyên giai không huyễn
Tán đạm tiêu diêu tự tại hoạt.
Tái bất dữ nhân nhàn xá đạm.
Nghĩa là:
Tám mươi lăm tuổi một ông già.
Mỗi ngày ngồi thiền việc lánh xa.
Đạo nghĩa rõ rồi không luận đến.
Kinh sách thấy đó chẳng xem qua.
Đã tường một tính là chân tính.
Xét thấy muôn duyên ấy huyền tà.
Tự tại ung dung ngày tháng rộng.
Chẳng cùng thế tục chuyện bôn ba.

10. TÂM

1. Người ta chỉ có một cái tâm: ra ngoài là tình vào trong là tính, đi xuôi là thức, trở ngược là trí.
Nay muốn đem cái ra ngoài, mà cho chở ngược vào trong, thì có phải phản quán chăng?
Chữ phản có nghĩa là trở lại. Còn chữ quán có nghĩa là chiếu soi hay xét biết.
Cái thần con người ở tại tâm, cái cơ của tâm ở nơi mắt. Cho nên mắt ngó vào trong, thì tâm cũng theo nó mà ở trong tâm, chẳng những ở trong mà thôi mà còn thêm định nữa.
Cái tâm đã định rồi thì Tâm hỏa hạ giáng, Thận thủy thượng thăng, miệng nếm cam tân (ngọc dịch), chân đạp hỏa đỉnh (vạc lửa). Từ chỗ huyền diệu đó mà tỏ ra cùng tận.
2. Người ta chỉ có một cái chân tâm, vì sao sinh vọng? Mê thì tựa như có, Giác thì hóa ra không.
Cho nên ta nói: biết vọng thì hết vọng (nghĩa là: buông lục trần ở ngoài, lục căn ở trong, và lục thức ở giữa một lượt, bỏ cho thật hết). Đó là phép định tâm.
Thành là dẹp trá ngụy, kính là dẹp cái khinh khi. Đương lúc vọng niệm dấy lên, chẳng cần dẹp, cứ đem trở ngược vào tâm, xét xem sự tưởng. Chỉ hồi quan phản chiếu vào đúng chỗ mà minh xét, thì nó liền hư không.
Học Đạo không có phép nào khác, thường phản chiếu tức là học, hết vọng hết tưởng tức là Đạo.
3. Chu Tử nói rằng: một phần tâm hướng vào trong thì được một phần chính, hai phần tâm hướng vào trong, thì được hai phần chính.
Nếu kính cẩn thần minh chẳng theo đuổi ngoại vật, có lẽ nào chẳng đạt tâm chính.
Lại nói: giữ cho vô tâm chẳng bằng đem tâm về gìn giữ. Chỉ vừa thấy tâm động, thì ý rằng: cái tâm này là cái tâm của ta nó phải do ý của ta. Ta chẳng tin theo nó mà đi ra ngoài. Tuy bị nó che lấp, ta cũng làm cho nó tỉnh được.
Hét lớn một tiếng trong Tâm trăm tà đều lui, rồi xét vào tâm. Tâm không thì nương theo hơi thở, hơi thở trụ thì thần cũng định.
Đây gọi là “Chân nhân chi tức dĩ chủng”, hơi thở của chân nhân ở nơi căn đế (thâm tâm).
4. Con người sở dĩ khác hơn chim thú, duy tại tâm này mà thôi.
Phật nói rằng: Những kẻ làm điều ác, kiếp sau làm chim thú.
Sao vậy? Hình họ tuy là người, mà tâm họ không phải là người nữa.
Thấy cảnh mà tâm chẳng động thì chẳng sinh chẳng diệt thì cái tâm không bị tiền duyên trói buộc. Đó tức là giải thoát vậy.
5. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: Trong sách Đại Học, nơi chương Chính Tâm trước nói “hữu sở” thì không chính (hữu sở là: lòng có yêu thích thì không được ngay, lòng có tức giận thì không được ngay, lòng có ham muốn thì không được ngay, lòng có lo lắng thì không được ngay). Sau nói về “tâm bất tại” (là lòng chẳng ở, trông chẳng thấy, nói chẳng nghe, ăn chẳng biết).
Bốn loại hữu sở là bệnh của kẻ hữu tâm,
Bốn loại tâm bất tại là bệnh của kẻ vô tâm.
Trên nói lòng chẳng nên thiên chủ (nghiêng về mình).
Dưới nói lòng chẳng nên ở mình mà làm chủ.
Bởi vậy ở trong hư không mà có chủ thể, là bài thuốc làm cho chính tâm chăng? Là bệnh hữu tâm hay vô tâm thì tâm cũng chẳng được chính, khiến cho kẻ học theo Đạo không biết đâu mà làm. Bởi vậy công phu chính tâm không phải là dễ.
Chúng ta cứ theo đấy mà thi hành, chẳng những mong thành thánh hiền, mà có khi còn thành Phật, thành Tổ nữa.
Kẻ hữu chí thành Đạo sao chẳng gắng công vậy?

11. TÌNH

1. Thất tình là bẩy trạng thái tình cảm của con người là:
Hỉ (mừng) thì khí đi chậm,
Nộ (giận) thì khí đi lên,
Si (mê) thì khí tiêu tan,
Lạc (vui) thì khí hao tán,
Ưu (lo lắng) thì khí kết tụ,
Sầu (buồn) thì khí đi xuống,
Kinh (sợ)thì khí loạn động.
Hễ khí trái nghịch thất thường thì nó biến sinh các bệnh.
Giả làm cho lòng bụng bành trướng, có khối hòn làm cho hông sườn tức nhức nhối như kim châm, làm cho yết hầu bị nghẹt, làm cho khí lên hóa xuyễn sinh ra năm chứng bệnh tích (ở trong ngũ tạng), sáu thứ bệnh tụ (ở trong lục phủ) theo máu thành bệnh trừng (khối hòn có hình thấy rõ, ở cứng một chỗ đè vào thì thấy nó nặng tay. Ấy là đau bệnh có khối, có hòn ở trong bụng có hình). Theo nước thành bệnh tịch (khối hòn ẩn nấp núp ở khoảng giữa hai xương sườn, đè nó dường như không có vật gì, mà đến lúc đau lại nghe như có. Ấy là bệnh đau có khối có hòn trong ngực mà không có hình). Đờm dãi vì đó mà ngưng đọng, kết lại như thao cần (dùi), như bầy nhầy không kể xiết.
Cho nên kẻ biết tiếp dưỡng, dẫn tình đem về tính. Đó là cái hay để trị bệnh.
2. Tình là cái hay phát động đi ra ngoài. Thánh nhân dưỡng nó trước khi chưa động, cho nên hay dùng được tình để thuận muôn vật mà vô tình, vật đi qua mà chẳng nhận có (lấy làm của mình), vật xông tới mà không cần lưu cầm (tới rồi phóng đi) tỷ như cái gương sáng chiếu vào vật: là vật tốt chẳng vì nó mà sinh lòng mong muốn, là vật xấu chẳng vì nó mà sinh lòng ghét.
Cho nên nói: “Quách nhiên nhi đại công, vật lai nhi thuận ứng”, nghĩa là: “Rộng rãi mà rất công, vật lại thì đưa xuôi theo vật”. Rất công nghĩa là: Thuận thiên lý, không tà tây theo nhân dục. Đưa xuôi theo vật nghĩa là: Có vật tất nhiên có phép (muôn vật đều có phép nhất định), làm theo cái vô lối.
3. Sách Định tính nói rằng:
Tình của con người, hay che lấp, cho nên chẳng hợp với Đạo.
Bởi lo riêng mà lại dùng trí, lo riêng thì chẳng thấy vô vi (thiên tính). Dùng trí thì không minh giác theo tự nhiên.
4. Người ta nói rằng: Tình của người dễ phát mà khó chế, thì có gì hơn sự giận nữa. Nhưng hễ phát giận, cứ quên đi sự giận mà coi lý xét phải trái cũng có thể thấy những điều ngoại dụ (ngoại cảnh nó cám giỗ mình), thì đường Đạo đã trải qua hơn phân nửa rồi.
Chu tử nói rằng: “Vong nộ tắc công, quán lý tắc thuận” nghĩa là quên giận mới công hình, xét lý thì thỏa thuận.
Hai điều này là phương pháp răn mình, mà vứt bỏ cái màn che lấp.
Người đắc Đạo trong ngoài đều không không, vắng lặng. Nhờ tĩnh mà thường phản quán, chẳng vướng ngoại vật (không bị tình dục quấy nhiễu).
Được như vậy:
Thân tuy gởi trong cõi phàm trần, mà tâm đã siêu ra ngoài cảnh vật.
5. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Cao hơn hết là quên tình, mà phải quên tình ấy là dẫn tình đem về tính vậy.
Người hay dẫn tình đem về tính, nho gọi là thâu phóng tâm, Đạo gọi là luyện hoàn đăng như – như bất động, y như Phật vậy chẳng khác”.

12. TƯ(SUY NGHĨ)

1. Cái tâm của con người phải cho chết, thì tâm cơ mới quí, chết là chết về phần dục niệm, sống là sống về phần đạo lý. Suy nghĩ chính là tâm cơ, không ý tà là gốc rễ của suy nghĩ. (Người quân tử có chín điều nghĩ: nhìn thì nghĩ đến minh bạch, nghe thì nghĩ đến thông suốt, sắt mặt thì nghĩ đến ôn hòa, tướng mạo thì nghĩ đến dịu dàng, lời nói thì nghĩ đến trung tín, phụng sự thì nghĩ đến thành kính, nghi ngờ thì nghĩ đến học hỏi, giận thì nghĩ đến khổ nạn, thấy lợi thì nghĩ đến điều nghĩa).
Nghĩ về đạo lý là chính, nghĩ vật dục là tà. Đạo là sẵn có, nghĩ về Đạo là có Đạo. Nghĩ đến chỗ hay, tâm bỗng phát lộ, khoan khoái vui mừng, gọi là sở đắc. Nếu nghĩ tới chỗ sâu xa, mà tâm khí hao kiệt, thì chỉ là sở kiến (thấy hiểu), chứ không phải là sở đắc.
Chẳng nghĩ mà được là bậc thánh nhân, nghĩ mà được là bậc hiền nhân, chẳng nghĩ chẳnh gắng mà được gọi là thần nhân.
2. Tâm con người thất khiếu hay bị máu như sợi chỉ tơ bít nghẹt, như muốn khai thông mà chẳng học chẳng nghĩ thì không được. Nghĩ và học đều phải có cả hai.
Đức Khổng Tử nói: “Chỉ học mà không nghĩ thì không hiểu, mà bụng mờ ám. Chỉ nghĩ mà không học thì không thông lý kim cổ mà làm chuẩn đích, mà bụng sinh nghi”.
Kẻ không thông lý giống như úp mặt vào tường, nghĩ cũng như phá tường, phá hết tường thì sáng suốt, trống rỗng. Tuy biết nghĩ tới tột cùng thì có thể thành thánh.
Trình Tử nói: “Tư lự bất chiêm chiêm khổ”, nghĩa là: Nghĩ lo không cho đến khổ quá. Chẳng quá cẩu thả, chẳng quá khổ, mới gọi là thiện tư (biết cách suy nghĩ).
Người quân tử nghĩ mà chẳng ra khỏi ngôi mình (địa vị, phận sự của mình) gọi là tư. Nếu nghĩ mà ra khỏi ngôi mình (vẩn vơ) thì ý là niệm (tưởng). Tư là cửa nhập Đạo, niệm là nguồn chướng Đạo.
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Nho nói tư, Thích nói tham, Đạo nói ngộ, đều là danh từ để chỉ cách dụng tâm cầu Đạo.
Tuổi trẻ phải dụng Tâm, tuổi lớn phải dưỡng Tâm, tuổi già phải tức Tâm, thì mới đúng là phép công phu.
Nho nói hóa, Thích nói liễu, Đạo nói đắc, tới đây thì công phu không còn dùng vào đâu nữa”.

13. NIỆM(TƯỞNG)

1.Vì không sáng suốt nên niệm dấy lên, gọi là vô minh. Bởi vô minh dấy lên, nên gọi tâm là niệm, chứ tâm thật chẳng động.
Xét tâm tới chỗ này, thì niệm tự nó dứt. Dứt niệm chẳng khó, hãy trở lại lúc niệm chưa dấy lên, thì niệm tự nó không còn tiếp tục nữa.
Trước khi niệm chưa dấy, thì toàn là vô cực. Như nay muốn rõ thì thường phải xét coi niệm do tâm mà sinh.
Nhân cảnh hiện tại mà sinh ra cảnh quá khứ, từ nhân cảnh quá khứ mà sinh ra cảnh vị lai.
Hiện tại nếu vô tâm, quá khứ tự nhiên dứt.
2. Ý hay theo thực là niệm, là lòng còn pháp ái. Ái là yêu. Ái có hai loại:
2.1. Dục ái là ái của phàm nhân.
2.2. Pháp ái là cái ái lạc thiện, pháp của từ bậc Bồ Tát trở lên; Pháp ái lại chia ra hai loại nữa, là:
2.2.1. Bực tiểu cơ ái niết bàn cùng là Bồ Tát chưa đoạn pháp chấp mà ái thiện, cái pháp ái này phải đoạn nó.
2.2.2. Lòng đại từ bi của Như Lai cũng gọi là pháp ái, đây mới là cái chân ái vô thượng.
Trên đã nói pháp ái, là chỉ cái pháp ái của bậc tiểu cơ, ái niết bàn, cũng là bồ tát chưa đoạn pháp chấp mà ái thiện cũng là niệm. Phải tận trừ nó, rồi sau mới có thể dụng tâm dứt vọng niệm, vọng niệm trở lại sáng suốt.
Hãy coi niệm cái gì, thì niệm tự tiêu mất.
Tu chân phải dứt niệm, dứt niệm phải xét tâm, xét tâm, tâm chẳng có, tâm không, cảnh tự không.
Tâm cảnh đã không rồi, thì cũng không còn gì là dứt (chỉ) là xét (quán) nữa.
3. Đại sư Khuê Phong – Mật Tông nói rằng: “Cẩn mật tĩnh mà xét, cần siêng xem thấy rõ”.
Tập khí (hết thẩy các thói quen bị xã hội cảm hóa mà tập nhiễm) có dấy lên xem trúng chỗ liền dứt. Chớ có tùy theo nó, thì khỏi sa vào nẻo phàm phu.
Dục tình cũng đừng lụy, khỏi đọa vào nhị thừa (hai bậc Thanh Văn và Duyên Giác).
Theo Viên Tông, đốn giáo chỗ cứu cánh là vậy (Viên Tông là giáo lý hoàn thiện, đầy đủ, bao trùm hết các phép. Đốn giáo là giáo lý dạy người niệm chẳng sinh tức là Phật, thành công rất chóng, chứ chẳng phải tu tập dần dần), chỉ tùy thuận với bản tính, thì Giới trí tự nhiên không gián đoạn (lý và trí hợp như một).
4. Kinh Thâm Đồng khế nói rằng:
Tai, mắt, miệng, ba báu,
Bế ngăn chớ phát ngoài.
Chỉ đem lại cảnh trống,
Vô niệm giữ thường hoài
Thân tâm đều bởi tai, mắt, miệng khuấy rối. Tai nghe tiếng, mắt thấy màu, miệng nói lời. Thân tùy tai, mắt, miệng mà rời rạc, tâm do tiếng, màu, lời nói mà động lay.
Tâm động thân rời, chân tính không sáng suốt. Tuy có hoàn đơn rồi mà pháp thân cũng khó thoát, sao khỏi dương cực âm sinh, tuy được mà rốt cuột lại mất.
Nếu bế ngăn ba độc cho đừng nổi lên, phát ra ngoài, thì tam độc có thể đổi lại thành tam hữu, chẳng những không khuấy rối, mà lại giúp ích cho mình nữa.
Bế ngăn đây chẳng phải nhắm mắt, ngậm miệng, bịt tai. Ấy là phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, nghĩa là: điều phi lễ đừng ngó, điều phi lễ đừng nghe, điều phi lễ đừng nói. Chỉ ngó, nghe, nói những gì thuộc lễ tức là đã bế ngăn con mắt, lỗ tai, cái miệng đó.
Nói cho cùng, thấy màu không biết màu thì mắt bế, nghe tiếng mà chẳng phải tiếng thì tai bế, lời nói mà không phải lời thì miệng bế. Được vậy thì nội niệm chẳng sinh, tâm thân tự nhiên tĩnh.
Đan Thư gọi là: chỉ diệt động tâm, không diệt chiếu tâm, là tiếp ý này.
5. Tức tâm là không tâm, là chẳng diệt các tướng của tâm, mà để ý phân biệt.
Tức niệm mà vô niệm (nghĩa là: chẳng bỏ tâm mà vẫn được không tâm, chẳng lìa niệm mà lại không niệm) Ý nói có mà không, chẳng phân biệt không có, có không chỉ là một (luận về Trung Đạo), là bởi niệm không có tự tính (hay tự thể, là thể tính bất định, không biến đổi), duyên khởi cũng là không (chỉ là bóng dáng huyễn hoặc).
6. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Dùng Tâm ý dứt niệm, chưa chắc được, bởi cái ý dứt cũng là niệm, cũng chỉ là đuổi Trương Tam, mà cầm Lý Tứ mà thôi”.
Người mới học Đạo bị như vậy thì phải làm sao?
Thì phải tọa vong (ngồi quên), quên thì không có ta, không có ta thì niệm chẳng thể dấy lên.

14. HÁO(ƯA)

1. Lòng người ai cũng có chỗ ưa riêng. Chỗ ưa là điều lòng mình chú tưởng vào đó hơn hết.
Chẳng phải cố ý như vậy, mà có vậy, lại cũng không biết bởi có đâu mà ra vậy.
Do niệm tưởng, có thể phân biệt phẩm chất người cao thấp. Nội một thời gian, có thể quyết đời người nên, hư.
Vậy chẳng khá không cẩn thận.
Giả sử chỗ ưa của họ là: nhân nghĩa, lễ nhạc, thi thơ, chẳng hỏi mà biết họ là người hiền.
Giả sử chỗ ưa của họ là du đãng, cờ bạc, tửu sắc, chẳng hỏi mà biết họ là người bỏ.
Giả sử chỗ ưa của họ là vườn cây, vườn thú, câu cá, đốn củi, chẳng hỏi mà biết họ là dân thấp kém.
Giả sử chỗ ưa của họ là tranh đấu, kiện thưa, kiêu ngạo, đao binh chẳng hỏi mà biết họ là người hung bạo.
2. Phàm kẻ nào ưa ăn chơi phạm phải 5 điều:
Tiết thể (coi khinh thân thể)
Lạc thần (làm nhọc thần hồn)
Thương tài (tốn hao tiền của)
Thất thời (luống mất ngày giờ)
Ngộ sự (hỏng hư công việc)
Tuy có việc tốt, mà không bền lâu, thì người quân tử cũng không làm.
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Đại khái, chỗ ưa của con người mà có thiên lệch đều là do hạt giống từ đời Vô thể (chưa sinh) mà mang đến đời nay. Nếu chưa triệt ngộ trước rồi, dầu muốn đổi lại cũng là khó lắm”.

15. THÂN

1. Trong thân con người, ở phía trước có ba cung là: Nê Hoàn Cung, Giáng Cung, Hoàng Đình Cung là chỗ thần khí đình trú.
Nê Hoàn Cung cũng gọi là thượng Đan Điền, ở trong chính giữa cái đầu, phía trước là Mi Gian (Ấn Đường), phía sau là ải Ngọc Chẩm, phía hữu và phía tả là hai lỗ tai. Chớ lầm tưởng đó là huyệt Bách Hội, ở trên đỉnh đầu.
Dưới cái tâm huyết có một khiếu, gọi là Giáng Cung. Từ Giáng Cung xuống ngang 3 tấc 6 phân, gọi là Thổ Phủ, hay Hoàng Đình. Ấy là trung Đan Điền, mở trống không một khiếu, vuông tròn 1 tấc 2 phân. Đó là chỗ chứa khí, là nơi dưỡng đón.
Trước thận chỗ chính trung gọi là Yến Nguyệt Lư, lại cũng gọi là Khí Hải. Thấp xuống 1 tấc 3 phân gọi là Hoa Trì (Quan – Nguyên). Đó là hạ Đan Điền chỗ chứa tinh).
Ở phía sau có 3 quan, là Vĩ Lư Quan, Giáp Tích Quan, Ngọc Chẩm Quan là đường khí lưu thông ba quan này ở nơi xương sống con người có 24 đốt.
Vĩ Lư Quan ở phía dưới, tại đốt thứ 22 (có chỗ ghi 24).
Giáp Tích Quan ở giữa (trên 12 đốt, dưới 12 đốt).
Ngọc Chẩm ở trên tận trót, cũng gọi là Phong Trì, ở sau não.
2. Mạnh Tử nói: “Vua Nghiêu, vua Thuấn làm theo tính tự nhiên, vua Thang, vua Võ phải đem tính trở lại”. Lại nói: “Thang, Võ gắng sức mình mà làm”. Hai nghĩa đều nói rằng Thang, Võ chỉ có trở lại cầu nơi mình mà thôi. Vua Thang, vua Võ hay trở lại cầu nơi mình, thì trong mình Thang, Võ đều có vua Nghiêu, vua Thuấn. Chúng ta hãy trở lại cầu nơi mình, thì trong mình chúng ta đều có Nghiêu, Thuấn. Xem lại trong thân ta thì khí có ở trong đó.
Người quân tử theo Đạo, cho nên thân trị thì Đạo lập. Kẻ tiểu nhân theo dục, cho nên dục phát thì thân vong.
Kinh Lăng Nghiêm nói rằng: “Nhất môn thâm nhập, Nhập nhất vô vong. Bỉ lục tri căn, nhất thời thanh tịnh”.
Nghĩa là: Một cửa (một căn) vào trong, hết dục vọng. Còn lại mấy căn kia, đồng thời thanh tịnh.
3. Người chưa có thể đắc Đạo, đều là bị hình thể làm lụy. Muốn trừ cái lụy, thì phải biết thân là vật không bền, là cái xác rất khổ, là hình không chủ, toàn cả thân mình trong ngoài đều không có một điểm gì là sạch tốt.
Vậy chứ sao mà ta tự hỏi muốn ăn ngon, mặc tốt? Đến trước người hay khoe lanh lợi, chưng tuấn tú? Chỉ sử người cho ý loạn tâm mê? Lừa gạt người thế chẳng ai không bị hại.
Chết rồi sống, sống rồi chết, từ mấy muôn đời nay, chịu không biết bao phiền não, không biết chừng nào thoát khỏi vậy?
Ngày nay ta lập trí học Đạo, đem cái duyên ra mà xét thấu hết cả. Không còn bị mê hoặc nữa, không còn bị chỉ sử nữa, tập dần chân không huệ (là đã rõ thấu nguồn vô sinh, không còn tính nhân ngã), dùng liền xả thân pháp (chẳng luyến ái gia thân, hay quên mình vì Đạo), buông thân thể, bỏ thông minh, giữ theo đó chẳng rời, thì mới mong kề gần với Đạo.
Người phái Tiên gia tu thân thì phải xét lại trong cái thể của mình, thần tức khí ngưng (kết đọng lại) khí tức là thần trú, tính mạng song tu.
Đạo với khí nương nhau, hình thần đều được huyền diệu cùng Đạo hợp một lẽ chân.
4. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Lão Tử nói: Ngoại kỳ thân nhi thân tổn. Nghĩa là: gác thân ra ngoài thì thân còn (ý nói thánh nhân chẳng vì giả thân mà tranh giành kình địch, khiến phải lụy thân).
Trường Xuân chân nhân nói: “Bá kế dĩ dưỡng thân, tức bá kế dĩ muội tâm”. Nghĩa là “Trăm kế để bổ dưỡng thân hình, tức là trăm kế làm mê muội tâm hồn”.

16. MẠCH

1. Trong thân người có kinh mạch, kể cả mười hai chính kinh và tám kỳ kinh (Nhâm, Đốc, Xung, Đới, Dương kiều, Âm kiều, Dương duy, Âm duy).
Nhưng chỉ có hai mạch Nhâm, Đốc quan hệ nhất đến việc sinh, tử của con người.
Với kẻ phàm phu thì mạch Nhâm ở nơi bụng từ dưới mà đi lên trên, còn mạch Đốc ở sau lưng từ trên mà đi xuống dưới, trước sau hai mạch gián tiếp với nhau, cho nên hóa cơ (máy sinh hóa) mất căn bản.
Bởi vậy mạng sống tùy theo khí bẩm sinh yếu mạnh mà ra ngắn dài.
Tiên gia biết được mạch Nhâm là chỗ tổng hội các phần âm, còn mạch Đốc là nơi nhiếp thống của phần dương.
Hai mạch này nếu thông thì trăm mạch đều thông.
2. Cho nên tiên gia lui âm phù, tiến dương hỏa, làm phép vận chuyển hà xa.
Theo phép này thì phải ngưng thần nhập khí huyệt (Đan Điền), ấy là qui căn; thần khí giữ nhau không rời.
Chờ đến khi tịnh cực (tĩnh đến cực điểm) rồi thì phát động ấy là thần trở lại thừa khí mà thượng thăng nơi Nê Hoàn Cung. Chừng đó đường hà xa mới thông.
Phải biết đường hà xa, tức là hai mạch Nhâm Đốc của thân ta đó.
Hồi khí mới phát sinh, nó uất chưng (nghĩa là nước nhờ có lửa nấu chưng lên nên sinh ra khí, càng nhiều càng mạnh, bồng bột như trong nồi nước sôi đậy nắp kín) nơi khoảng giữa hai quả thận, tràn đầy lên trên ngũ du (năm thứ huyệt ăn vào năm tạng).
Ấy là kinh thủy loạn hành, chẳng còn nơi mạch nữa.
Ta dụng thần chuyển nó về Vĩ Lư, rồi lên tới Giáp Tích, Giáp Tích khó qua thì lưỡi trụ ổ gà, khiến nó lên Phong Phủ mà thẳng tuốt tới Nê Hoàn.
Thần với khí giao hội chỗ đó, thì mới nghe trong mình thư thái điều hòa.
Một chút thì nó biến ra cam lồ.
Mau lấy lưỡi mà dẫn nó từ trên Thước Kiều mà đi xuống khai thông Hội Yết, Tràng Lầu, Dạm Giáng Cung trở về chỗ chứa nó (khí huyệt) thì nghỉ, giáp vòng như vậy lâu rồi thuần phục, khí mãn ba điền, dưới trên giao thái.
Đây là chỗ gọi:
Thường sử khí thông, quan tiết thấu,
Tự nhiên tinh mãn. Gốc thần tồn,
Nghĩa:
Vận khí thông quan, soi cốt tiết,
Tự nhiên tinh đủ, dưỡng nguyên thần.
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Từ chỗ theo phép này… trở xuống mấy câu, muôn quyển Đan kinh chẳng nói ra ngoài vòng đó. Nói ra ngoài vòng đó là bàng môn.
Chỗ Lão Tử gọi rằng: Trí hư cực, thủ tịnh đốc, vạn vật tịnh tác, ngô dĩ quan kỳ phục”.
Nghĩa là: Phăng chỗ hư (trống) cho cùng bực, giữ lòng tĩnh cho hết sức, thì muôn vật đều phát hiện (hư trung sanh thật, vô trung sanh hữu), ta nhân đó mà thấy lại bản lai của ta hồi ban sơ.
(Theo Kinh Dịch, âm cực thì dương trở lại sinh nơi dưới, gọi là quẻ Phục. Phục là cái Đạo sinh vô cùng chẳng dứt). Phải biết quí nó, ráng giữ lấy nó.
Nhất là người thượng đẳng căn khí hết lòng làm theo đó).

17. TRẦN THẾ

1. Động lay gọi là trần, biến đổi gọi là thế.
Thế có trị, có loạn: đời trị quí tài năng thì ra mặt, đời loạn quí đức hạnh thì ẩn mình. (Ý nói: đời trị thì ra mặt đem tài nghệ của mình ra mà giúp nước; đời loạn thì nên ẩn mình mà trau dồi đức hạnh của mình).
Người có trẻ, có già: trẻ tuổi thì quí học hành mà cần siêng, già lớn thì quí du dưỡng mà an tịnh.
Đời Nghiêu có Thuấn có Hứa Do, mới biết ai buồn, ai vui?
Đời Thúc Quí, không Nghiêm Quang (tự Tứ Lăng) sao rõ ai thanh, ai trọc?
Chúng ta trải qua các đời cũng như lội qua sông. Phàm gặp chỗ sâu hụt chân đắm đuối, thì phải biết mà tránh.
Lương Ký (là ngựa hay đi một ngày ngàn dặm) chạy rất nhanh, mà thường mang cái khổ phong trần.
Huyền Qui (rùa đen) tuy linh, mà khó trốn sự nguy mổ ruột.
Xem con chim kia, thừa gió mà bay lên cao, lựa cây mà ngừng đậu, thì sướng thích biết bao! Chỉ vì ham ăn, bị bắt nhốt vào lồng rồi, muốn thoát mà thoát sao được!
Nay ta thấy tước lộc xét coi có phải là cái lồng nhốt người đó chăng?
Đời Xuân Thu mà không dùng Khổng Tử, ấy là cái bất hạnh của đời Xuân Thu, mà là cái đại hạnh của hậu thế.
Huyền Đức biết dùng Khổng Minh, ấy là cái đại hạnh của Huyền Đức, mà là cái bất hạnh của Khổng Minh.
Việc làm của đời xưa có tốt, có xấu với việc làm của ngày nay có phải, có trái, cũng là việc làm của mình có được, có mất, cái việc ấy đã thuộc về dĩ vãng là việc vô thức ở trần thế, có nói tới làm gì? Nhớ tới ích chi? Chẳng nói, chẳng nhớ thì tâm tịnh vậy. Tâm tịnh tức là Đạo.
Các chỗ có được ngày nay đều do chỗ mong muốn ngày xưa mà ra. Chỗ chẳng có ngày nay, là chẳng phải chỗ có được một ngày kia để được tĩnh lặng vậy?
2. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Tâm tịnh tức là Đạo. Đã thấy Đạo chẳng xa người.
Chỗ mà người thế không đắc ý, chính là lúc Bậc cao nhân tiêu sái lâu dài”.

18. DANH LỢI

1. Học Đạo chưa được, bởi vọng niệm chưa dứt. Vọng niệm không dứt là bởi danh lợi khó quên, mà khiên triền (buộc ràng). Nếu muốn dứt vọng niệm, thì trước phải xét thấu danh lợi, thì sau mới dứt được.
Danh là phần tạo vật rất kị, lợi là món nhân tình hay tranh.
Cho nên nói:” Danh lợi giết con người hơn gươm giáo”. Sao vậy? Gươm giáo giết con người cho đến chết, còn danh lợi chết cũng không chừa.
Người xưa đạt Đạo rồi hay làm như người si cuồng, là vì không muốn cho người ta biết mình. Người đời nay chỉ học biết chút mà muốn biểu lộ ở thế, thật là hủ lậu!
Người quân tử học Đạo phải đem hết những tâm háo thắng, khoe tài mà quên hết, chỉ lo âm thầm tu hành. Đạo tuy minh, đức tuy lập, mà dường như chưa làm gì được vậy.
Cho nên nói: “Người quân tử có chỗ ta không theo kịp”. Có phải cái chỗ người ta không thấy được đó chăng?
2. Lợi là một vật không đức mà khiến người ta gần gũi, không lừa mà khiến người ta hăng hái, không quyền mà khiến người ta chẳng từ lao khổ, không tình mà khiến người ta một khắc chẳng quên.
Lợi khiến kẻ học Đạo thấy nó mà bại đức, khiến cho người trị thế (làm quan trị dân) thấy nó mà bỏ luật. Từ xưa đến nay, lòng người và phép nước, vì mối lợi đó mà bị lụy hại.
Ở trong thiên hạ, có cái đại hại ẩn trong cái đại lợi, mà người ta chẳng phải không biết, mà vì lợi làm cho tối tăm đi, đáng thương thay!
Của cải phạm phép nước cũng như món ăn phạm tạng phủ làm sinh bệnh vậy. Hồi lúc lấy trộm thì sợ không được nhiều, mà đến chừng bại lộ ra, lại muốn cho có ít. Chỉ có một vật mà sau trước khác nhau như thế đó, là bởi lợi với hại nối gót theo nhau.
Giá như lúc thấy lợi mà nghĩ đến cái hại, thì những niệm cẩu thả tất nhiên phải tuyệt.
Quân tử chứa đức, đức hay nhuận thân, lại cũng hay vinh thân. Cho nên bậc đại đức không cầu lộc, vị, danh, thọ mà lộc, vị, danh, thọ tự nhiên đến. Tiểu nhân chứa của, của hay nuôi thân, lại cũng hay hại thân. Cho nên kẻ có của muốn bỏ lo lắng sợ hãi mà lo lắng sợ hãi bỏ không kham.
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Danh là phần tạo vật rất kị…, nói vậy rất hay.Từ chỗ lợi là một…cho tới mấy câu sau lại còn nói thấu đến cốt tủy.
Kẻ thương hộ buôn bán nghe qua còn phải gật đầu, huống hồ là bậc sĩ đại phu cùng người học Đạo”.

19. SẮC

1. Trời và đất là vợ chồng lớn sinh hóa muôn vật. Vợ chồng là trời đất nhỏ, sinh trai, gái. Đại khái Đạo người thông với Đạo trời, thuận mà đưa ra, có thể sinh ra cháu con, nghịch mà dẫn vào, có thể thành tiên thánh.
Một vị tiên ngày xưa có nói rằng: “Tử yểu bất lão, hoàn tinh bổ não”. Nghĩa là: Người muốn không già đem tinh về não.
Não là cái biển chứa các thứ tủy. Cái tinh dâm dật do nơi cái tủy kia mà hóa ra. Những người háo sắc hay bị nhức đầu ấy là lúc trống óc rồi đó!
Ôi! Dầu khô đèn tắt, tủy hết người chết. Quán Sở, lầu Tần chẳng phải là chỗ vui. ây là lưới rập hãm con người. Ca kỹ chẳng phải là người vui, ấy là quỉ mị phá tan nhà cửa tâm thần mà thôi.
Người đều sợ quỉ, duy không sợ thứ quỉ đội lốt giai nhân trong nhà, nó câu thần hồn con người. Người đều sợ cọp duy, không sợ thứ cọp ngủ chung giường, nó ăn cốt tủy con người. Người đều sợ rắn, duy không sợ thứ rắn bao quấn trong chăn, nó hút khí huyết con người. Người đều sợ trộm, duy không sợ thứ trộm cướp đoạt khí dương ban đêm, nó hại tính mạng con người. Sắc nó hại người lớn lắm thay! Chẳng phải là không ai biết răn mình, nhưng răn mình rồi lại phạm nữa. Hay là cho sắc tốt đẹp chăng? Sao chẳng nghĩ trong lỗ tai có cứt ráy, trong con mắt có ghèn, trong lỗ mũi có nước dãi, trong miệng có nước miếng, trong bụng có phân đái, trong âm có mũ máu, dơ dáy hôi tanh, chỗ nào cũng đều không sạch cả. Lại thêm ngấm ngầm xảo mị, giả bộ thương yêu, mà kỳ thật là lang độc.
Kẻ ngu không rõ, nay đắm sắc dục chỉ ham hoan lạc một hồi, mà chẳng kể hình dung khô héo, bại đức tổn thân, làm hại rất lớn!
Phải nên xa lánh nó, như tránh đạo tặc vậy! Đạo tặc cướp lấy hết tiền của thì phải nghèo. Nữ sắc cướp lấy hết tinh của người thì người phải chết.
2. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: Lữ Đồng Tân có đề bài thơ rằng:
Nhị bát giai nhân, thể tựa tơ.
Yên huyền, lợi kiếm trảm phu ngu
Tuy nhiên bất kiến nhân đầu lạc.
Ấm lý giao quân cốt tủy khô.
Nghĩa là:
Hai tám gái tơ dạng mỹ miều,
Lưng đeo gươm bén chém người yêu.
Tuy là chẳng thấy đầu rơi rụng
Âm thầm hại chăng cốt tủy khô.
“Ôi! Người bậc trung niên sắp lên còn chẳng tin chắc lời này, huống hồ là bọn thiếu niên không biết gì”.

20. SỰ(VIỆC)

1. Việc có điều chẳng thể đem ra thi hành cho mình được, tức là chẳng thể để mầm mống ở trong lòng. Có điều chẳng thể đem ra mà nói với người ta được, tức là chẳng thể đem bẩm cáo cho trời biết.
Đem bốn cái chẳng thể này, giờ giờ thường kiểm điểm, thì sẽ gần cái Đạo.
Việc ở trong thiên hạ, khó mà gặp cơ hội.
Việc nào liệu làm được thì chẳng nên thoái thác, thoái thác thì không công đức gì.
Việc nào liệu làm không được thì chẳng nên cưỡng cầu, cưỡng cầu thì sẽ thấy thất bại.
Việc nó đến cho mình, chẳng phải là không có lý.
Người quân tử hay nghĩ về phải trái, kẻ tiểu nhân chỉ luận về lợi hại.
Con người đương lúc vô sự, thì tâm phải thường ở tại chỗ trống không, chẳng khá vọng tưởng nơi chỗ mờ ám.
Khi có việc thì tâm phải chuyên chú về đường chính lý, chẳng nên cưỡng chấp ý kiến của mình.
2. Trong mình ít việc, tự nhiên ít khổ. Trong miệng ít nói, tự nhiên ít họa. Trong bụng ít ăn, tự nhiên ít bệnh. Trong lòng ít dục, tự nhiên ít lo.
Trong đời sự khó làm nhất có hai điều là: qua biển và ra trận. Người thế dường như không sợ hai cái khó này vì có kẻ làm được.
Còn học Đạo, là phản cầu (cầu ngược nơi mình) thì bền được dễ dàng chớ chẳng phải nguy hiểm như vượt qua biển là thiên lý tự nhiên, yên ổn chớ chẳng phải nguy hiểm như đi ra trận.
Đã dễ dàng, lại yên ổn, mà ít người hay làm, vậy là tại sao? than ôi bỏ chỗ dễ đi tìm chỗ khó làm sao không trầm luân khổ ải.
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Những việc của bậc cao minh, phần nhiều là ở ngoài mây, lại có thể gặp việc thì xong việc. Những việc của người ngu xuẩn, phần nhiều là ở trong xanh, nên gặp việc thì gây việc.
Bậc cao minh khi có việc đến, ứng đối lấy lý công, tự nhiên như tên bào đinh (đầu bếp) xẻ thịt bò, ngũ quan không động, duy có thần hành. Người ngu xuẩn, khi có việc đến, ứng đối lấy lòng tư (lòng riêng vì mình), tự nhiên như con cò với con ngao tự kéo nhau để cho ngư ông hưởng lợi”.

21. VẬT

1. Muôn vật có đây, là ở trong Không mà sinh ra. Thói tính của người phàm hay ỷ về Có mà thôi. Tìm biết chỗ thường Không đó chắc phải khó rồi, mà thường Không cái Có kia lại càng khó học nữa.
Con người muốn đứng trên cái địa vị thường Không này thì phải lấy tĩnh làm chủ. Lấy tĩnh làm chủ thì chưa từng có vật. Mình quên vật thì vật kia tự nhiên mất dạng. Vật tuy đầy ở trước mặt, mà thường coi như không vậy.
Bàng Long Uẩn cư sĩ nói rằng:
Chỉ giữ vô tâm cùng vạn vật.
Sợ gì mọi vật phủ vây mình.
Người thì có người yêu quái, vật thì có vật yêu quái, nó hay mê hoặc người ta. Mà thật nó mê hoặc người ta được sao? Ấy là người tự mình mê nó chứ!
Sách Bách Tự Bi Lã Đồng Tân nói rằng:
Chân thường tu ứng vật
Ứng vật bất khả mê
Nghĩa là:
Theo Đạo “Chân thường” phải ứng với muôn vật thì chẳng khả mê (nếu chẳng ứng thì ra không tịnh hư vô). Vậy có vật lại thì ứng vật đi thì chớ lưu cầm.
Có câu quyết rằng: “Để ý thì mỗi đoạn công phu đều sai lầm hết, còn không làm gì lại ra đoạn diệt hư vô”.
Thấy vật tốt, mà sinh lòng mến, thì cái tâm mình đã bị nó dẫn đi, tức là mê rồi.
Xét thấu một vật thì không bị vật đó mê hoặc.
Xét thấu muôn vật thì không bị muôn vật đó mê hoặc.
Kinh Kim Cương nói rằng:
Nhất thiết hữu vi pháp,
Như mộng, huyễn, bào, ảnh,
Như mộng, diệt như điển
Ưng tác như thị quán.
Nghĩa là:
Hết thẩy pháp nào thuộc hữu vi,
Chiêm bao, bọt, bóng, ảo ra chi.
Như tuồng điển chớp, sương đầu cỏ
Phải xét cho rành chớ có si.
2. Các sự vật trong thiên hạ, tự có cái đạo lý Ninh tịnh. Sách Chu Tử ngữ lục nói: mừng, giận, buồn, vui chưa phát, thì cái tâm này Ninh tịnh (yên lặng) hợp ở ngôi trung. Trong đó không nên để một mảy tư ý (ý riêng) xen vào.
Cho nên nói: thiên hạ có sướng gì? Lo gì? Bởi cớ mà quân tử gặp việc thì làm được việc chứ không sinh sự, tùy vật mà cấp cho vật chứ không để ý tới vật.
Trình Y Xuyên nói rằng: con người đối với vật ở ngoài, món nào để cấp dưỡng thân mình thì muốn nó tốt cả, chỉ có cái thân và cái tâm của mình lại muốn cho nó tốt. Họ được mọi vật ở ngoài tấc cả, mà có dè đâu thân và tâm của mình đã không tốt trước kia mà!
Nay người có nhà cửa, áo quần, món ăn uống, cốc khí, vật dụng, hay hổ thẹn không bằng người, lại không biết tự hổ thẹn là sao? Thật không biết nghĩ suy gì hết!
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Mình quên mình thì vật tự nhiên mất. Nói vậy thì đủ thấy mình ở trong, nên mới có vật ở ngoài. Mình ở trong quên mình, thì vật ngoài tự nhiên mất”.
Kẻ thế bỏ chân tìm giả, mà còn xưng rằng: “tôi là người trí”, thật đáng thương thay!

22. NGÃ(TA)

1. Sách Luận Ngữ có ghi rằng đức Khổng Tử tuyệt không có bốn điều này: không lấy ý riêng, không kỳ tất, không chấp nệ, không có tà tâm (vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã) mà để hai chữ vô ngã (không có ta) cuối cùng là vì; ý, tất, cố đều do hữu ngã (có ta) mà ra. Duy cái ta này mà không, thì ý, tất, cố cũng đều theo nó mà không luôn.
Ta là cội rễ của các việc tư (việc riêng của từng người). Không ta thì cội rễ đoạn, các việc tư hết sinh nữa.
Nay người ta có lòng làm việc gì, có việc nào trong đó mà không vì ta hay không?
Việc chẳng lợi cho mình thì làm sơ lược cho có, bởi vì đời thấy nó cho là ở vòng ngoài nên bỏ ra.
Việc có lợi cho mình thì tính từng thăng, từng đấu, từ chút, dầu mình bỏ mạng cũng cố đuổi theo.
Cái ta nó làm hại lớn biết mấy. Duy không có cái ta thì việc tư tà hóa ra việc công chính.
Mình còn quên hình hài của mình nữa, thì đâu có vật nào làm lụy cho được?
Hãy kiếm hết trong hình hài ta, có cái nào là ta đâu? Nếu không thấy cái ta, thì đã trọn giải thoát.
2. Vĩnh Gia Tập nói rằng: vô minh chẳng đoạn đứt, cố chấp quấy vì ta, theo ngã kiến thì cứ tham sân, sa Tà kiến lại tranh quyền sở hữu, mới sinh ra các sự nhiễm trước. Biết thân là huyễn. Không có tự tính, sắc tức là không, thì ai là ta? Hết thẩy các pháp, chỉ mượn giả danh, không có một cái gì chân thật. Tứ đại, ngũ uẩn, từng thứ một không phải ta. Tìm kiếm trong ngoài, rồi cũng chẳng có ta.
Hãy xem rõ chữ ngã, là hai chữ qua (chỉ binh khí hồi xưa tựa như cây kích vậy) hợp thành. Một bên chữ qua xuôi, một bên chữ qua ngược. Các mối họa lang độc sát sanh ra đều do hữu ngã (có ta) mà dấy lên.
Cho nên người có lòng với Đạo thì trước phải vô ngã.
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Cái mà người thế gọi là ngã, chẳng phải là chân ngã. Ấy là Thức thần, chỉ khuấy hại mà thôi”.
Người xưa nói rằng:
Vô lượng kiếp lai sanh tử bản.
Si nhân nhận tác bản lai nhân
Nghĩa là:
Vô ngàn kiếp số gây sinh tử,
Kẻ ngu vẫn tưởng bản lai nhân (tính ban đầu)

23. GIẢ

1. Kẻ học Đạo trước phải nhìn cho ra chân giả, rồi mới có thể vào cửa Đạo (khởi học).
Thường xem như kẻ hát tuồng, tan hợp, sầu vui, bộ tịch ở ngoài y nhiên theo cảnh, mà trong tâm vẫn bình tĩnh như thường. Làm sao mà họ được chẳng động tâm như thế, đó là họ biết rõ hình tượng là giả trang, tình cảnh là giả tác, biến đổi xây vần, chứ không ảnh hưởng tới thân mình cả.
Kẻ học Đạo xét đó thì có thể tỏ ý hiểu Đạo.
Lại xem hát hình, thấy hình nộm múa may, rõ ràng như hình người. Kẻ vô trí xem hình, xem đây, mà không tưởng có người dât dây rồi hình mới cử động được.
Vậy hình hài con người có phải là hình nộm đó chăng? Chân tính có phải là người hát đó chăng?
Lại thấy có người bày trò chơi, cải tên đổi chất, để lòa mắt khán giả. Kẻ dung ngu thấy rồi, mắt mờ tâm mê, khen là kỳ diệu.
Ở thế gian, tất cả các pháp đều hữu vi, người lấy đó lừa ta, ta lấy đó lừa người và lừa cả ta nữa, điên đảo, đảo điên, cùng với trò chơi kia có khác gì? Thấy nó mà mắt chẳng mờ tâm chẳng mê, tức là gần với Đạo rồi!
Lại thấy kẻ chiếu bóng, đốt đèn đánh trống, thiên hạ đều lại xem hát. Tâm và mắt họ đều theo bóng, bị nó thu hút, bỏ không cái xác của mình. Đến khi dầu khô đèn tắt, các thứ huyễn cảnh đều hoàn lại không. Kẻ trí nhờ thấy đó mà tỏ hiểu được cái Đạo. Đang lúc không mà giả danh có, nhưng có đó cũng chẳng phải có, đến khi có mà hoàn lại không, mà cũng chẳng phải không, mới là Đạo.
2. Tại cớ sao vậy? Các duyên hội hợp thì có, mà cái có này không tự tính, cho nên nói chẳng phải có, để phá cái thường kiến. Tính trống rỗng là không, không để chỉ rõ chân thể, cho nên nói chẳng phải không, để phá cái đoạn kiến. [Thường kiến là chấp cái sở kiến thân tâm còn mãi, thuộc về hữu kiến (thấy có); đoạn kiến là chấp cái sở kiến thân và tâm mất luôn, thuộc về vô kiến (thấy không)].
Pháp Hoa kinh, Phẩm Phương tiện nói rằng: nhập tà kiến trù lâm, nhược hữu, nhược vô đẳng. Nghĩa là: vào rừng rậm tà kiến rồi thì thấy hoặc có hoặc không,v.v… Cho nên thấy có và thấy không đều gọi là tà kiến cả. Việc nhỏ như ngày đêm, sống chết, việc lớn như Nguyên, Hội, Vận, Thế đều có thể lấy đó mà suy ra thì rõ.
Kẻ học Đạo phải biết chỉ có cái tính là chân, muôn duyên đều giả, hết thẩy các vật đang sinh đều là trần cấu (bụi đất) ở trong cái giả. Sao lại cùng bọn phàm phu tranh nhiều ít, sánh tốt xấu ở trong cái trần cấu kia vậy, không phải là ngu muội sao!
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Kẻ hát bội có biết là sự giả, người học Đạo nhìn đó là điều chân. Lẽ nào người Đạo kém thua kẻ hát bội kia sao? Do không hiểu rõ đó thôi!”.
Nói chẳng phải có để phá thường kiến, nói chẳng phải không để phá đoạn kiến. Hai câu này lại thêm tinh vi. Người hay xét thấu rồi, tự nhiên chẳng vọng chấp tướng có hay là không.

24. MA

1. Mặt trời hay là mặt trăng bị che khuất (nhật thực hay nguyệt thực) đều là bị ma chướng cả.
“Gặp phải một ma chướng thì phải có sinh một lần trí tuệ. Có sinh một lần trí tuệ mới là được một lần trí ích”.
Nếu chẳng lấy trí tuệ mà xét cho thấu, lại sinh phiền não, ắt đại sự hư hoại.
Những người tu hành, vì tập khí khó quên, nên cần phải hay chủ tịnh. Hết thẩy các tĩnh thức ở khoảng không nên quên mà chưa quên, cho nên có loài ma xuất hiện, thuận thì khiến người tham muốn, nghịch thì khiến ra khủng kinh.
Vậy phải xem xét không để cái tâm này sa vào lưới tà, mà thường nhớ rằng chỉ có cái tâm mà thôi, chớ không có cảnh giới nào ở ngoài nó được (vạn pháp duy tâm tạo) Có lẽ nào tự mình mà mến, mà sợ cái tâm của mình hay sao? Xét thấu được như vậy thì cảnh giới tự nó tiêu diệt.
2. Tiếc thay cho Chính Đạo chẳng được sáng suốt, tà thuyết dấy lên như ong, có người tự mê tâm loạn, vọng xưng làm thầy người ta cho nên yêu tinh quỉ quái đều thừa được sơ hở đem tinh thần dựa vào người ấy, giả xưng là thần.
Kẻ ngu không biết lại tin là thật, cùng nhau khen ngợi, càng nói càng hay cả đám theo ma, rốt cuộc không tỉnh ngộ. Sống thì làm tôi cho ma, chết thì cũng làm hồn quỉ cho ma nữa!
Ô hô! Ai tai! Buồn thay, không thể cứu được. Đau xót lắm thay!
Huyền và Thích, hai Đạo xảy ra nhiều việc ma, mà chẳng biết đối trị, mỗi lần xảy ra chứng điên, đều là bởi thấy lý chưa rõ ràng, cưỡng chế cái tâm mình mà ra vậy. Duy có nhà nho không có việc ma là bởi cái công Cách vật trí tri ra mà thi hành trước hết.
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Đại phàm những kẻ học Đạo theo ma đều bởi nhìn lý không rõ ràng, học sảo qua hai nhà kia (Huyền và Thích), rồi hạt luyện manh tu (tu đui luyện mù), nên hai thứ bệnh ma đó. Duy nhà Nho bởi cách vật trí tri, nên không có ma.
Lời nói phải lắm! Ô Sào thiền sư nói rằng: Tâm sinh chủng, chủng ma sinh. Tâm diệt chủng, chủng ma diệt”, nghĩa là: tâm sinh thì các ma đều sinh, tâm diệt thì các ma đều diệt. Như vậy các ma đều do niệm mà ra cả, cũng tự người mà ra cả.

25. CẢNH

1 Tất cả các cảnh trong tam giới, tuy có một cái tâm động niệm mà sinh ra, chứ không có phép nào khác. Niệm nếu chẳng sinh, cảnh tự nó dứt. Hay là sức niệm động đến cùng rồi, thì nó cũng tự trống không vắng lặng. Do đó đủ biết, lúc mê muội cũng chẳng mất gì, khi hiểu cũng không được gì, là bởi cái chân tâm vô trụ (ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm) chẳng tăng mà cũng chẳng giảm.
Tâm do cảnh mà khởi: lấy tâm xem cảnh, thấy vật mà sanh tâm. Tuy ở chốn sơn lâm hải đảo, đâu đâu cũng là chốn trần lao.
Người do luyến cảnh, cảnh mới lộng gạt người, nên tâm người bất chính mà phát cuồng. Tình theo vật, vật dẫn tình, tất thần lìa khỏi thân mà thành si muội.
2. Cảnh tốt hay cảnh xấu đều là cảnh, cảnh tuy đến trùng trùng chứ không thật có. Tà niệm hay chính niệm đều là vọng tưởng, niệm dầu nổi lên tán loạn mà cũng là không. Chớ gọi ngũ dục (năm điều ham muốn: ham thấy sắc, ham nghe tiếng, ham ngửi mùi, ham nếm vị, ham xúc động thân thể) vui, mê mà quên trở về, thì phải bị thương thân hại mạng. Phải biết, chỉ có bản tính là chân, nắm giữ nó chớ dời, thì tự nhiên tiêu ma chướng, phá chấp Có, phá chấp Không, biến làm tịnh độ, đem nó về nguồn cội tiếp mạng, thì thân phàm nên thành thánh.
Tam giới chỉ do tâm tạo, sao không dẹp trước cái tâm! Lục trần nhờ lục thức mà vào, thì phải tuyệt ngay cái thức. Đứa con đỏ hoàn toàn không có thức, trần duyên đổ cuồn cuộn như nước chảy nhưng chẳng có lỗ hở mà vào.
Bậc chân nhân chỉ còn có trí pháp giới (pháp tính, thật tướng, bản tính) chiếu sáng, nên khắp nơi đều cực kỳ vui đẹp.
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Cảnh không có khổ sướng, khổ sướng do tâm vọng khởi.
Đồng thời ở lầu Nhạc Dương, có người được tâm hớn hở, thần đẹp vui, lại cũng có khách cảm kích quá mà sinh buồn thảm”.
Người xưa nói rằng: “Thần tiên không có phép nào khác, chỉ trong lòng vui vẻ mà không sầu muộn đó thôi.
Chẳng phải người có Đạo đức sâu xa dầy chặt, khó mà buông được câu nói ấy ra”.

26. THỨC

1. Cái bản lai vốn Chân tịch minh diệu, hư triệt linh thông, không thể do suy nghĩ mà được. Nó chẳng giống cũng chẳng khác, mà cũng chẳng phân biệt.
Tỏ ngộ nó là bến Bồ Đề, mê muội nó là biển sinh tử.
Trẻ nhỏ chưa biết cha mẹ gọi là phác (còn tự nhiên chân chất), mà hể biết cha mẹ rồi gọi là tỳ (đã bị tỳ vết). Tỳ là tâm bệnh kiến thức càng rộng thì tim càng phát nhiệt, ấy là tâm bệnh, mà thân cũng tùy đó mà sinh bệnh.
2. Do tâm mà sinh phân biệt gọi là thức, vô tâm mà phân biệt gọi là trí.
Trong ngũ uẩn là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Thức ở cuối cùng mà là gốc, nên phải lo hàng phục nó trước. Muốn hàng phục thức thần, không có gì bằng biến thức ra trí. Thức thường theo cảnh mà quên về, trí hiểu được cảnh mà chẳng mê. Theo cảnh mà chẳng hiểu thì trí nào chẳng ra thức, hiểu cảnh mà không luyến thì thức nào không thành trí.
Luận về cốt yếu, chỉ có một cái tâm mà thôi, phóng nó ra thì là thức, thu nó lại thì là trí.
Chỉ có tâm phân biệt thì sa vào tỉnh thức, có chút phan duyên (dựa bên ngoài) là phát sinh vọng tưởng. Chẳng biết thì liền xong, mọi việc mới thanh tịnh.
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Đứa con trẻ vừa biết cha mẹ đã trổ cái tài sảo của thức thần, kiến thức nhiều thêm thì thêm tâm bệnh. Có mấy ai biết bệnh này đâu?
Theo cảnh là thức, hiểu cảnh là trí, phóng ra là thức, thu lại là trí, mỗi chữ chỉ dạy phân minh chính xác, có thể nói Hoàng đế đoán chứng bệnh, Kỳ Bá lập phương trị, mà chúng sinh không tin nữa là tại sao?

27. QUÁ(LỖI)

1. Tiềm tâm mà làm việc trái lẽ gọi là ác, vô tâm làm việc trái lẽ gọi là quá (lỗi). Ngạn ngữ nói rằng: “Nhân phi thánh nhân, thục năng vô quá?” Nghĩa là: con người chớ phải nào ông thánh, mấy ai mà không có lỗi đâu? Khá lấy lời nói này mà tha thứ cho kẻ khác, chớ vịn vào đó mà tha thứ cho mình (ấy gọi là khắc kỷ).
Cừ Bá Ngọc đang tuổi 50 mà biết cái sai 49 năm về trước. Ta (Dưỡng Chân Nhân) nay đang tuổi mà cái sai 84 năm về trước có thể biết hết không? Cái sai quá lâu rồi không biết đã đành, còn cái sai gần đây cũng không dễ mà biết. Tại sao vậy? Mê thì lấy sai làm phải, lầm thì lấy phải làm sai.
Xét nét nào phải chỉ có ba điều (ba điều của Tăng Tử thường lấy đó xét mình: Một là có vì người ta mưu tính việc gì mà chẳng hết lòng chăng? Hai là chơi với bạn mà nói không thật lời chăng? Ba là có điều gì thầy dạy mà chẳng học tập chăng?) mà biết quá há là để phạm hai lần sao?
2. Châu Tử nói rằng: Trong việc làm hằng ngày, biết vậy là quấy, thì đừng có như vậy nữa, tức là phương chữa bệnh.
Nếu hỏi: Do đâu mà được đừng như vậy nữa, tức là phương chữa bệnh.
Nếu hỏi: Do đâu mà được đừng như vậy nữa, tức là cưỡi lừa mà kiếm lừa đó.
Kẻ học chỉ lo tịnh tu ba nghiệp là: nghiệp miệng lưỡi, nghiệp thân mình, nghiệp ý nghĩ mà thôi. Không phạm lỗi ở miệng dễ, mà không phạm lỗi ở mình khó ; không phạm lỗi ở mình dễ, mà không phạm lỗi ở ý khó. Kẻ có trí phải đem hết sức mình lại chỗ khó đó mà cải đổi cho kịp, thì sau này mới mong vào cửa Đạo.
– Có kẻ hỏi: Người làm tội rồi có sám hối được không?
– Trả lời: Cái việc làm trước khi không lớn nhỏ, kiếm nó trong ngoài mà kiếm không được, gọi là chân sám hối.
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: Câu “Mê thì lấy sai làm phải, lầm thì lấy phải làm sai”. thật là có quá ít người biết được, mà có biết phỏng có mấy người hiểu được.
Thật là tìm đậu mà không thấy đậu mới là chân sám hối.

28. THIỆN(LÀNH)

1. Thiện là gì? Là khí dương bởi thái cực động mà sinh ra. Người lấy nó mà làm tính, thì tính người đều lành cả, cho nên tu dưỡng phải dưỡng cho được khí dương.
Khí dương ở trời sinh ra sau tháng mười lúc thuần khôn (âm cực sinh dương). Ấy là chân tức ở qui chung (chân tức nghĩa đen là hơi thở chân, tức là dương khí, tiên thiên khí, không phải hơi thở thường. Qui chung lấy nghĩa theo thân thể người thì là qui vào khí huyệt, tức là Đan Điền ở bụng dưới nơi phát sinh ra chân khí).
2. Thích giáo khuyên răn mọi người, nói Niết Bàn, địa ngục, thiện ác, báo ứng, chẳng sai, mà phải chờ đến ngày khác hay là kiếp sau.
Còn Đức Phu Tử của ta chỉ nói rằng:
“Thượng đạt thần đãng đãng, hạ đạt thường kích thích”
Nghĩa là: Thượng là trên, trên là gốc chỉ đức nghĩa, hạ là dưới, dưới là ngọn chỉ tài lợi. Người quân tử thường đạt đến đức nghĩa, kẻ tiểu nhân hay đạt tới tài lợi. Người quân tử khoan khoái trong lòng luôn luôn, còn kẻ tiểu nhân buồn sầu chẳng ngớt.
Thượng đạt nghĩa là: càng tiến lên bậc cao minh, không phải Niết Bàn hay sao?
Hạ đạt nghĩa là: sa xuống nơi chỗ thấp dơ chẳng phải địa ngục chứ gì?
Thần đãng đãng, nghĩa là: nhập mỗi cảnh, không đâu mà chẳng phải chỗ vui vẻ, thì phúc đó có ai bằng?
Thường thích thích nghĩa là: lúc nào cũng lo canh cánh, thì nghiệp nào lớn hơn nữa?
Vậy thì đương lúc làm lành hay làm dữ, tức là có hưởng liền cái phúc hay chịu ngay cái tội, chẳng chờ ngày nào khác hay là kiếp sau khác.
– Có kẻ hỏi: Nhà thiền nói Niết Bàn, địa ngục có hay là chẳng có?
– Trả lời: vui sợ ở trong tâm, mới thành cảnh lành dữ ra ngoài. Chỉ dẹp trong cái tâm thì tự nhiên không.
– Có kẻ hỏi : Làm thế nào dẹp tâm cho xong?
– Đừng có suy nghĩ đến lành dữ.
– Có kẻ hỏi: Làm việc lành với học điều tốt, có gì khác nhau không?
– Không có gì khác nhau.
– Cái nghĩa của nó ra sao?
– Tai không nghe tiếng dâm là tai tốt, mắt không nhìn sắc là mắt tốt, miện chẳng nói lời quấy là miệng tốt, tâm chẳng khởi tưởng quấy là tâm tốt, tay chẳng lấy vật phi lễ là tay tốt, chân chẳng đạp đất phi lễ là chân tốt, noi cái Đạo của vua Nghiêu vua Thuấn mà trị dân là vua tốt, học Đạo của ông Y, ông Lữ mà thờ vua là tôi tốt, học bà Mạnh Mẫu chọn xóm ở mà dạy con là mẹ tốt, học Tăng Sâm dưỡng chí mà phục sự cha mẹ là con tốt.
– Lại hỏi: Nay có người nói đắp lộ, sửa chùa là tu cho kiếp sau, quả có chỗ tốt không?
– Trả lời: Ta chỉ nghe thánh nhân nói rằng: từ Thiên tử cho tới thứ dân, ai ai cũng đều phải lấy tu thân làm gốc.
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: khí dương bởi thái cực động mà sinh ra thành tính. Có thể nói Thiên mạng chi vị tính, nghĩa là: cái mà trời phú cho ta gọi là tính. Muốn dưỡng khí dương này thì phải chân tức qui chung.
Người tu ở trong thân mình thì ít, mà người tu ở ngoài thân mình lại nhiều, bởi vậy người đắc Đạo ít là phải.

29. MỘNG(CHIÊM BAO)

1. Làm sao mà có chiêm bao? Các thứ chiêm bao đều do trầm mê chẳng tỉnh, rồi thần thức mới biến hóa ra các thứ huyễn cảnh. Chỉ có một cái tâm mê mộng mà sinh ra tam giới, tứ tướng. Ở trong giấc chiêm bao thấy có biến đổi lạ mãi, thì vốn Không mà sinh ra Có.
Đang lúc mình chiêm bao thì thấy thân mình có khổ hay có sướng, khi tỉnh giấc lại thì mọi việc liền thành ra không cả. Chẳng phải nhờ tỉnh giấc mới không có, trước kia vốn không có rồi mà!
Chứng Đạo Ca nói rằng:
Mộng lý minh minh hữu Lục thú,
Giác hậu không không tam đại thiên…
Nghĩa là:
Trong mộng rõ ràng bày sáu nẻo (sáu đường luân hồi).
Tỉnh rồi vắng lặng mất ba ngàn (thế giới).
2. Núi sông trời đất đều là cảnh ở trong giấc chiêm bao. Vương, hầu, văn, võ đều là người ở trong giấc chiêm bao. Thánh nhân trong tam giáo đều là người tỉnh giấc trước. Còn kinh của tam giáo đều là sách bàn về chiêm bao.
Nếu biết việc thế đều không, thì sống chết chỉ là một giấc chiêm bao, không có gì ngăn trở, mới gọi là tỉnh biết.
Xưa có Bạch Vân tiên sinh ngủ rồi thức dậy, có Kim Lệ hỏi về cuộc đời. Tiên sinh trả lời rằng: sau khi phân lưỡng nghi, ai là người, ai là ta ở trong khoảng ngàn năm, ai là thành, ai là bại? (Ý nói tuy thấy có người, có ta, có thành, có bại, mà rốt cuộc cái gì cũng hoàn không).
Người giảng thuyết thì chê Hạng Võ, khen Lưu Bang.
Nhà biên ký (ghi chép) thì thương vua Linh Đế (đời Đông Hán, không trị được trong cung, nên sinh giặc loạn hoài hoài), ngài Nguyên Lượng (là người lỡ bề giúp nước, lại lui về cầy).
Kẻ luận bàn thì khoe Thái Khâu (là tên xứ đời Đông Hán, ông Trần Thiệt tự Trọng Cung làm đầu trong xứ ấy xử đoán rất công bình. Nay người ta lấy tên xứ làm tên ông), thương Phạm Bàng (cũng là người đời Đông Hán, có chí an bang tế thế, sau bị phe loạn quan giết chết).
Coi lại đều là bùn lầy ở trong đất bụi cả. Chi bằng một chén rượu trược (trọc), một cuộc cờ tàn, một gối ngũ gáy pho pho càn khôn trong thân ta mặc ý ta thu phóng.
– Lệ hỏi rằng: Tiên sinh lấy một giấc ngủ mà thu cái hỗn độn của trời đất, lấy hồi tỉnh thức mà phá cái vãng lai ở xưa nay. Hay thay, nói vậy cái ngủ cũng có Đạo sao?
– Trả lời: Có chứ! Người phàm ngủ, thì trước ngủ con mắt, sau ngủ cái tâm. Ta ngủ thì trước ngủ cái tâm, sau ngủ con mắt. Ta tỉnh thì trước tỉnh con mắt, sau tỉnh cái tâm. Con mắt tỉnh nhờ đó mà thấy tâm, cái tâm tỉnh chẳng thấy đời, chẳng thấy đời lại chẳng thấy tâm.
Từ khi có vũ trụ đến nay, kẻ trị đời lấy Huyền Khuê mà thưởng (thỏ ngọc màu đen, đen là màu của trời. Vua Vũ có công lớn nên vua Nghiêu thưởng Huyền Khuê), kẻ giàu có lấy Bạch Thắng mà khoe (món nữ trang màu trắng), kẻ tu hành cưỡi Hoàng Hạc mà bay (là con hạc vàng. Tiên Lã Đồng Tân cưỡi hoàng hạc bay đi khỏi lầu, cũng gọi là lầu Hoàng Hạc); cưỡi Thanh Ngưu mà vượt (là con trâu xanh, Đức Lão Tử cưỡi con thanh ngưu mà vượt sông Lưu Sa đi về hướng Tây), kẻ dạy đời đem Xích Tử (trẻ con mới đẻ da thịt còn non đỏ) mà suy, đem Lục đồ mà vẽ (là Hà đồ, vì chữ màu lục nên gọi là Lục đồ). Ta đều vô tâm không tưởng đến đó, ngủ cũng vô tâm, thức cũng vô tâm.
– Lệ hỏi rằng: Tôi muốn học cách vô tâm phải làm sao mới đúng?
– Trả lời: Đối cảnh chớ nhìn tâm, đối tâm chớ nhìn cảnh. Như vậy đó là xong rồi, đâu biết cái gì khác nữa?
Khi tỉnh không “không biết gì”, tâm càng thêm rảnh rỗi, cười thay người trần thế chẳng biết chiêm bao là chiêm bao!
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Tâm tỉnh không thấy đời, thì dù thấy người chấp trước theo cảnh đều là trong giấc chiêm bao cả.”

30. QUỈ

1. Con người bị quỉ dấu mê hết phân nữa, còn phân nữa còn lại bị người khác mê hoặc. Quỉ với người tranh nhau mê hoặc cơ hồ cả thiên hạ.
Bậc cao minh lấy lẽ phải cứu họ, mà họ không nghe theo, còn người trên dưới (hạng cầm quyền) lấy pháp luật mà cấm họ, nhưng cũng không dứt nổi.
Tà thuyết càng ngày càng hưng, càng ngày càng thịnh, không biết rồi sẽ đến đâu là cùng.
Đáng thương thay thiên hạ vô Đạo!
Quỉ là ngươi chết rồi, người là quỉ chưa chết, người đời nay cũng như người thời xưa vậy.
Khắp trong khoảng trời đất, chẳng có chỗ nào là không có quỉ thần. Chẳng những ở trong giữa khoảng trời đất có quỉ thần, mà ở trong thân mình con người cũng có quỉ thần nữa. Làm sao mà biết?
2. Bản tính con người do khí dương sinh.
Hình thể con người do khí âm thành.
Dương thì làm thần còn âm thì làm quỉ.
Dẫn tình đem về tính là Đạo của thần giữ.
Thuận tình cho táng tính là việc của quỉ làm.
Tục ngữ nói rằng: Người còn một phần dương thì chẳng thành quỉ, còn một phần âm thì chẳng thành tiên.
Lời này đúng lắm!
Vả chăng con người là Âm – Dương giao kết, Quỉ – Thần hội hợp lại mà thành. Bỗng nhớ đến lành là thần mở trí cho, thoạt toan làm dữ là quỉ khiến xui vậy.
3. Người quân tử tĩnh lặng một mình nơi sâu thẳm trong tâm.
Những việc tế vi, tuy dấu tích của nó chưa lộ dạng, mà các khởi niệm của nó đã động rồi.
Người khác tuy chẳng biết mà riêng ta tự được biết, biết một cách rõ ràng minh bạch lắm vậy, chính là xét coi cái cơ lành dữ, biện rõ cái Đạo Quỉ – Thần đó.
4. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: Dẫn tình đem về tính, không cầu thần lại là Thần.
Thuận tình cho táng tính, chẳng dè quỷ mà ra Quỷ.
Xin Chư quân chọn lựa đó.

31. THẦN

1. Chân tính của người tức là nguyên thần của người. Vì nó linh minh khôn lường, diệu ứng vô hạn cho nên gọi là Thần.
Còn chữ nguyên ở trước là để phân biệt với cái thần thức tư lự vọng niệm thuộc về hậu thiên.
Thần nhập vào thân thì người sống, thần đi lìa khỏi thân thì người liền chết.
– Sao mà biết thần đến?
– Niệm dứt thì thần đến.
– Sao mà biết thần đi?
– Niệm động thì thần đi.
Hình thể là nhà của khí, khí ở thì hình chẳng suy, khí là mẹ của thần, khí còn thì thần chẳng tán.
Người làm lành thì thần tụ mà linh minh, người làm dữ thần tán mà ám tối.
Kẻ có bệnh thì thần lìa hình mà chẳng chịu đau khổ.
Kẻ mắc nạn thì thần đi trước mà chẳng bị họa ương.
Một hơi thở của người không có thần thì hơi thở đó chẳng đến.
2. Con người có ba cái cốc. thần ở trong đó nên gọi là cốc thần.
Ở trên thì gọi là thiên cốc tức là Nê Hoàn Cung, làm thiên căn là bản cung của thần. Cho nên thần ở tiên cốc thì tinh hóa khí, khí thượng thăng, chín năm đầy đủ thì thiên môn nhờ đó mà khai thông.
Ở giữa thì gọi là ứng cốc tức là Giáng Cung, làm minh đường thuộc về bố chính (như chỗ để làm việc nước). Cho nên thần ở ứng cốc thì lỗ tai mới nghe, con mắt mới thấy, ngũ quan đều lo chức vụ thì toàn thân thể do đây mà tùng mệnh.
Ở dưới thì gọi là linh cốc tức là Đan Điền, làm nhà kín để ẩn thân tu hành (như am thất). Cho nên thần ở linh cốc thì mắt thấy trở lại, tai nghe ngược về, thần khí gìn giữ lấy nhau, hồn phách nhở vậy mà bảo nhất (hợp lại).
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Hai chữ nguyên thần giải thích rất rõ ràng. Nếu không vậy thì chắc sẽ có người nhận lầm thần tư lự thuộc về hậu thiên là thần.
Câu: Niệm dứt thì thần đến, niệm động thì thần đi thực là lời khẩu quyết hạ thủ rất hay.
Còn câu: Người có bệnh… chẳng chịu họa ương. Nếu chẳng phải bậc thoát thai thần hóa, quyết chẳng thể thốt ra chỗ huyền diệu của thần hóa đó được”.
Kẻ thế gian thường hay luận thần, nhưng thấy đúng có được bao người.

32. KHÍ

1. Khí của phàm nhân trước lên sau xuống, còn khí của bậc chân nhân trước xuống sau lên. Khí có ra có vào gọi là phàm tức (hơi thở phàm), chẳng ra chẳng vào gọi là chân tức (hơi thở thánh tức chân khí).
Hễ phàm tức đình lại thì chân tức tự nó phát động.
2. Hơi thở sở dĩ đình lại đây chẳng phải do cưỡng bế không cho ra. Mà do tâm trống đến tột bậc, lặng cho hết sức.
Hễ tâm định nhiều chừng nào thì Khí tự nó yếu đi chừng nấy.
Theo phép này, bất kỳ đi đứng nằm ngồi, đều dẫn tâm về chỗ lặng lẽ, không nhớ việc đã qua, chẳng tưởng việc sẽ tới.
Lâu lâu thần khí cùng hội, tình cảnh đều quên, thần ngưng khí kết, chỉ có một hơi thở triền chuyển trong bụng chẳng ra chẳng vào gọi là thai tức (hơi thở giống khi còn ở trong bào thai).
Hơi thở này đã sinh, thì cố giữ tâm trống lặng, luyện tinh hóa khí, thông tam cung, thấu tam điền.
Đó là chân thảo dược, chân lư đỉnh, chân hỏa hầu. Thảo dược là cái ống bễ thợ rèn, lư đỉnh là lò chảo, hỏa hầu là giờ khắc dùng lửa (dùng lửa phải biết cách thức, cho có chừng mực).
Thiên Túy Hư nói rằng:
Tích ngộ Chân sư truyền khẩu quyết,
Chỉ yếu ngưng Thần vào Khí huyệt.
Nghĩa là:
Xưa gặp Chân truyền khẩu quyết,
Chỉ phải định Thần vào Khí huyệt.
Ấy là lúc ban đầu chúng ta mới vừa thọ khí tượng thai, phần thọ tinh huyết của cha mẹ mà thành ngôi Thái cực mà chúng ta ai ai cũng đều có hết.
Chân nhân thần nương theo hơi thở thâm nhập vào trong khí huyệt của ta mãi mãi như còn (ý nói không dứt, còn mà chẳng thấy nghe được, phảng phất mà thôi), chẳng chút gián đoạn. Cho nên truyền Khí chí nhu (làm cho khí yếu dần) cho đúng phép (đắc huyền diệu), thì thấy quẻ Phục của mình (coi bài chữ Mạch có giải quẻ Phục).
3. Thái Thượng Lão Quân nói rằng: “Thiên địa chi gian, kỳ du thảo dược hồ?”
Như vậy cái khoảng giữa trời đất có phải như thảo dược chăng?
Con người nhờ được khí của trời đất mà sống. Hô hấp cái động của ống bễ. Chân tức là cái khí hô hấp. Nhưng cái chân tức này là gốc thọ khí, là nguồn sinh khí. Hô hấp lên xuống, xô đẩy chuyền nhau, ứng với âm dương, đồng như khắc lậu (đồng hồ nước).
Cho nên nói rằng:
Châu thiên tức số, vi vi số
Ngọc lậu hàn thinh, trích trích phù
Nghĩa là: Cái số hơi thở chu thiên là số tinh vi (ý nói chẳng thể biết rõ). Nó tương phù với từng tiếng nhỏ giọt của đồng hồ nước (ví với hơi thở ra vào).
– Có kẻ hỏi: Có cái thuyết nào lấy chân tức làm hỏa không?
– Trả lời: Chẳng phải lấy chân tức làm hỏa. Hỏa (lửa) là thần của người, tức (hơi thở) là cái ống bễ của hỏa (miên miên bất tuyệt), tức là “chân nhân chi tức dĩ chủng”.
Cho nên nói:
Mạn thủ dược lư, khâu hỏa hậu,
Dấn an thần tức, nhậm thiên nhiên.
Nghĩa là:
Chớ giữ thuốc lò, chăm hỏa hậu,
Chỉ yên thần khí, thuận thiên nhiên.
Phàm trong cả thân người, chỉ có một khí chu lưu, khí thông thì vui khoái, khí nghẹt thì khổ đau.
Cho nên tay múa chân đạp (luyện tập thể thao) là để dưỡng cái khí huyết của mình.
Phép này chẳng luận giờ khắc nào, tùy tiện mà thực hành.
Cần phải chuyên tâm bế tức (tập cho hơi thở nhẹ nhàng, cho đến hết ra vào chứ đừng cưỡng bế) thì sẽ được thần sung khí mãn, khí dễ lưu thông.
Nhưng phải trợn mắt cắn răng (như giận) cho được nghiêm mật võ nghị, thì tà niệm tự nhiên không có.
Làm như vậy được ít lần sau đó ngồi tịnh sẽ dễ trừ vọng niệm và tiêu tan bệnh tật.
Đoạn công phu này có nhiều chỗ hữu ích lắm, đừng nên xem thường rồi bỏ qua rất uổng.
4. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Tiên gia giữ kín chẳng truyền, thực ra chỉ có công phu luyện mạng mà thôi”.
– Mạng là gì?
– Là Khí đó.
Bài này đã chỉ rõ: chẳng ra chẳng vào gọi là chân tức, lại nói: Phàm tức đã đình lại thì chân tức tự nó phát động.
Phàm tức là lúc con người mới sinh oa oa một tiếng, khí thông miệng mũi gọi là khí hậu thiên.
Khí hậu thiên đã thông thì phải có sữa, có cơm nuôi. Hễ bế nó lại một chút thì chết.
Khí tiên thiên thì chẳng như vậy. Mặc tình ở trong bụng mẹ mười tháng, bị bào y vấn bao, rốt cuộc vẫn không chết.
Tại sao vậy? Tại vì phép này gọi là truyền chuyển trong bụng, chẳng ra chẳng vào đó.
Người tu luyện dẫn tình đem về tính, lâu ngày công phu già dặn, phản bản hoàn nguyên (về cội gốc, ban sơ), cũng như con trẻ ở trong bụng mẹ chẳng khác.
Người thế gian chết đó, chẳng qua là ở trong miệng mũi hết khí mà thôi.
Nay đang lúc còn sống mà miệng mũi hết khí thì còn sợ chết nỗi gì?
Đời mà không tin Đạo Tiên là bởi chưa rõ lý này, chưa thấy người này đó thôi.

33. TINH

1. Chân nhân tuyệt tinh là khí. Phàm nhân hóa khí là tinh. Người xưa ví tinh như diên (chì) là bởi nó có tính trầm trọng hay lọt mất, ví nó như cọp là bởi nó rất hung hãn khó phục hàng.
Người học Đạo cố thủ mà chẳng để cho nó mất, gọi là trúc cơ (đắp nền). Thần, khí, tinh thường muốn tán. Người ta chỉ lưu trụ nó lại được, đừng cho tán mất thì mới có thể trường sinh.
2. Ngụy Bá Dương nói rằng: Phàm nói sưu diên hống (rút hắc diên mà trợ thủy ngân) thủy ngân gặp lửa thì bay, nay nhờ có hắc diên (chì đen) thủy ngân bị chế, bèn kết thành khối mà chẳng bay được nữa.
Đây là lấy dương chế âm.
Lòng người dễ động ra vào không chừng, thấy cảnh thì sinh tình, cũng như thủy ngân, gặp lửa thì bay vậy.
Còn lòng Đạo thường trụ, tùy thời giám sát, thì lòng người không rảnh mà sinh cũng như thủy ngân nhờ có hắc diên mà được ngưng kết vậy, vậy là hoàn tinh bổ não.
3. Có kẻ nói: Có nhiều người học Đạo, luyện thụy (luyện thần trong khi ngủ cho được thanh tịnh, cho khỏi mộng tưởng điên đảo), hay bị chứng mộng di chắc khó rồi, uống thuốc lại không hiệu quả, thì phải làm thế nào cho hết bệnh ấy?
– Trả lời: Dắt Bạch ngưu (trâu trắng) lộn về, thì chẳng còn di tẩu nữa.
– Lại hỏi: Có người nói: Huyền tẫn lập thì Chân tinh bền. Làm sao mà lập được Huyền tẫn?
– Trả lời: Cốc thần chẳng chết là lập rồi đó.
– Hỏi: Cốc thần làm sao chẳng chết?
– Trả lời: Không lòng dục, cho thiện tịnh, thì nó chẳng chết.
Thường vào miếu Huyền đế thấy con rắn và con rùa quấn nhau. Vả chăng Huyền đế là thiên thần có ngôi Bắc thần. Thiên thần có ngôi, còn nhân thần há lại không có chỗ ở sao?
Trời chỉ về chỗ Tử vi, ở tại đó mà chẳng động thì cái tột cùng của trời (ngôi đại trung) đã lập, tạo hóa do đó mà sản sinh.
Người chỉ về chỗ Hoàng đình, đứng tại đó mà không dời, thì cái ngôi tột cùng của tính mạng do đó mà an vững.
Cho nên kẻ biết tu dưỡng thì đem thần hỏa và tinh thủy ngưng tại một chỗ, như con rắn với con qui quấn nhau vậy, hiệp thành một khối, chẳng để lìa ra, lâu rồi hết sức tịnh mới sinh động, chân hỏa đốt chưng, kim tinh phát hiện soi quan thấu đỉnh thấm dưới rưới trên. Đây là Đạo thâm căn cố đế, cửu thị trường sinh.
4. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Không lòng dục, hết sức tỉnh, thì cốc thần chẳng chết, ắt Huyền Tẫn lập”.
Huyền Tẫn lập ắt Chân tinh bền. Chân tinh bền thì không còn lo di thất nữa.
Đủ thấy cái bệnh mộng di là do nơi sắc tâm chưa thối mà dấy lên.
Người khám phá được sắc ma, một lòng thanh tịnh, cọp chẳng thể hàng phục, thì chẳng dễ vọng tẩu.
Nếu có người công phu chưa tới bậc đó, bỗng có cái bệnh di thất, thì hãy dùng phép dắt bạch ngưu lộn về.
Theo phép này thì lấy bất câu bố hay là vải gì cũng được mà may một cái bao nhỏ, bao ngoại thận lại, rồi đem nó cột ở phía sau dây lưng, thì chứng bệnh này sẽ khỏi.

34. GIÁO

1. Đạo là thánh nhân chẳng thốt ra lời, còn thánh nhân là Đạo thốt ra lời. Tuy nói có thốt ra lời, chẳng qua là lấy Đạo của người mà trở lại trị cái thân của người, chứ chẳng phải miễn cưỡng theo việc khó biết, khó làm đâu.
Đời xưa dạy người lấy cái Đạo của thánh nhân mà dạy.
Kinh Dịch nói rằng: “Dạy kẻ mông muội thì phải nuôi tâm trí cho minh chánh”, ấy là cái công trình của bậc thánh nhân đó.
Lúc dạy kẻ mông muội, phải dạy cho biết hướng về sự học thánh, thì kẻ học có lẽ nào lại không cố gắng học thánh sao?
2. Từ lúc Đạo của Khổng Tử lu mờ. Thì Đạo Lão, Đạo Phật hưng thịnh. Từ khi Đạo Lão ít truyền thì luồng gió tà thuyết nổi lên.
Lão Tử nói rằng: Trau lấy thân mình, thì đức mình mới được chân thiện, bỏ thân ra mà nói tu là giả dối vậy.
Đời nay có kẻ cầu Đạo Tiên Phật mà thường lánh người, trốn thế để cầu. Kẻ ấy gọi rằng: Có nhà cửa, có vợ con, có việc đời, ba mối ấy đều có thể làm lụy người, cho nên không thành Tiên thành Phật được.
Thế nào cũng phải lánh người trốn thế, mới mong làm Phật Tiên, sao chẳng biết cái Đạo của Tiên, Phật chẳng rời thân tâm vậy? Quả thật chính tâm tu thân, có nhà cửa cứ việc ở, có vợ con cứ việc vui vẻ cùng nhau, có việc đời thì mượn nó để đời mài tâm tính, cho nên tại nhà cũng có thể thành Thánh, thành Tiên, thành Phật cần gì phải bỏ chỗ rất tiện cho mình mà làm cái việc bất tiện kia vậy?
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Nói xuất gia có thể thành Tiên, Phật, người ta có thể còn tin. Nói tại gia thành Tiên, Phật không ai tin cả, tại cớ sao vậy?
Vì chưa thật rõ biết cái Đạo, chưa thật khảo cứu cái lý mà thôi.
Họ không tưởng đến rằng: Nếu Tiên, Phật cần phải xuất gia mới thành, vậy có thể nói thánh nhân cũng cần xuất gia mới thành sao?
Người thế trước tưởng chi lắm vậy!”

35. HỌC

1. Học là con đường đi tới Đạo. Thánh kinh, Hiền truyện có phải là người dẫn đường cho ta không?
Đời sau tà thuyết dấy lên khắp nơi, lời dạy với việc làm có hợp với kinh chuyện của thánh hiền chăng? Nếu không hợp tức là ma thuyết đó.
Kẻ học Đạo phải thu thân tâm về mà kìm giữ cho vững vàng, bổ thân tâm mà dụng công ở chỗ khác, tức là không phản Chánh Đạo.
Học Đạo chẳng phải nói qua cho xong, cũng chẳng phải hiểu biết là được, mà phải thành thật ngó vào trong tâm của chính mình, quét sạch hết thảy những điều vật dục cho không còn một mảy may thì tự nhiên hợp với Đạo.
Chí của người học Đạo gặp cảnh nghèo càng phải thêm cứng cáp. Gặp cảnh già càng phải thêm mạnh mẽ.
Nếu bị khách khí ngoại vật thu đoạt, thì lỗi ấy chẳng đổ cho khí hay là cho vật được.
Bệnh này do nơi chí chưa lập mà ra thì chỉ nên trách nơi chí mình mà thôi.
Hãy xét tới nghĩ lui, sẽ thấy được chỗ đau nhất, rồi mạnh bạo đoạn dứt ngay. Ví như nạo xương, đổi tủy, súc ruột, rửa sạch dạ dày, dùng cách đặc biệt mà đổi cho một người, làm bất cứ kẻ sống chết như thế một phen, thì có việc gì không thành.
2. Cái tâm của bậc thánh nhân chẳng khác với tâm ta, mà tại sao chỉ có cái tâm của thánh nhân lại thường được thanh tịnh như vậy?
Thật không có gì lạ hết, mà chỉ do thấy được lý thật, dưỡng được ý định.
Duy có thấy lý thật thì hết thẩy huyễn cảnh mới không thể mê hoặc ta được.
Duy có dưỡng ý định thì hết thẩy ảo vật, mới không thể diễn đoạt ta được.
Tai nghe mắt thấy ví như ăn uống, ngày ngày phải dùng mà ngày ngày phải tiêu hóa để tống ra ngoài.
Nếu tống không hết còn đình trệ ở trong bụng, sau rồi lâu ngày sẽ thành bệnh.
Bởi vậy những gì tai nghe mắt thấy không nên giữ trong lòng mới là học.
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng:” Kẻ thế gian học Đạo nườm nượp, đại để nếu chẳng là vì danh thì cũng là vì lợi.
Ngoài hai chữ danh lợi ra siêng học, mà dụng công như vây, hỏi có được mấy người?”
Vậy nên Lữ Tổ nói rằng:
Ven trời nghe kẻ níu tìm ta
Chạy khắp ven trời chẳng thấy ai
Lời này quả không sai.

36. TRI

1. Học có gì cần hơn là trí tri, là sự mở rộng đường trí thức. Trí tri tại cảnh vật, nghĩa là mở rộng sự hiểu biết cốt để xét tột lý của sự vật.
Vậy đã học rồi thì phải suy, suy rồi thì phải học, cho đến khi trí được mở mang thông suốt mọi lẽ, thì là biết tới nơi!
Hễ biết tới nơi rồi thì dần dần theo thứ tự sẽ được ý thành tâm chính.
Kiến thức của kẻ học là hữu hạn, còn nghĩa lý trong thiên hạ thì vô cùng.
Cho nên có điều mình biết rồi, nhưng thể nào cũng có điều mình chưa biết.
Vì thế những bậc tri nhân hay vì sự học mà như cắt như cứa, như dùi như mài vậy.
Con người ta chẳng phải là không thể biết gì, nhưng khó biết cho thật đúng (gọi là chân tri).
2. Người nào nhìn thấy châu ngọc cũng đều muốn thò tay lấy cho được nó để ôm ấp vào lòng là tại sao vậy? Là bởi biết thật như vậy, thì lo gì không đủ sức mà làm việc.
Người nào thấy gươm thạch tín cũng đều chẳng dám lấy lưỡi mà nếm nó, đem thân mà chống lại nó, tại sao vậy? Tại bởi biết nó thật hay hại người.
Người muốn bỏ điều ác, nếu biết thật như thế thì có lo gì điều ác chẳng cạn sạch không.
Cái tâm của người vốn thật sáng suốt, chỉ bởi bị vật dục che khuất nên mới thành ra đen tối mờ mịt. Nếu biết do vật dục, thì sốt sắng lấy hết sức chủ định lại chỗ sáng suốt đó.
Ngày nay cần phải trừ bỏ cái tâm khi sinh khi diệt, người biết điều đó chăng? Biết mà thường soi thường tưởng vào đó, thì sẽ có ngày hết sinh hết diệt. Đến chừng hết sinh hết diệt, tâm mới định, thì tính đã tận.
Ngày nay cái khí của người hơi ra hơi vào, người biết điều đó chăng? Biết mà thường nương theo nó thì sẽ có ngày chẳng ra chẳng vào nữa. Đến chừng khí chẳng ra chẳng vào, là nó đủ rồi, thì mệnh ta đã lập.
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Ngày nay luận về biết và làm, có nhiều kẻ nói biết thì dễ, chứ làm được thì khó.
Sao chẳng xét chỗ biết của mình là cành lá, là vỏ da của Đạo học thánh hiền mà thôi.
Chứ còn cái chân tinh tủy, cái chân mạng mạch, có phải dễ dầu mà biết nó đâu!
Nếu người thật biết (chân tri) thì sao cũng muốn làm thật, còn kẻ nào chẳng muốn làm thật thì cũng chỉ là hạng giả biết (giả tri) đó thôi”.

37. HÀNH(LÀM)

1. Biết và làm là hai đoạn công phu hợp nhất chẳng thể rời nhau. Thường giữ được cái biết luôn ở bên ta thì tự nhiên sẽ làm được. Nếu một khắc chẳng làm tức một khắc bị hôn mê.
Người quân tử lấy thân mà tựa theo Đạo. Hễ thân ở nơi đâu thì Đạo ở chỗ đó.
Cho nên đi thì có công phu đi, đứng thì có công phu đứng, ngồi thì có công phu ngồi, ngủ thì có công phu ngủ.
Lúc nào không tạp niệm tư lự đó là lúc công phu.
Phàm có làm mà không tiến được, ấy là làm chưa thật đúng.
Nếu biết cái lý cho đúng, thì tự nhiên vui thích mà làm theo lý.
Cho nên nói: “Học bất yếm chi dã”, nghĩa là học chẳng làm lỡ biết vậy.
Nếu thấy lý chưa đúng mà miễn cưỡng làm bậy, thì ý chí có bao nhiêu đâu! Đến chừng hết Khí lơi rồi, tự nhiên không thể làm tới được nữa.
2. Cứ chiều tối là lúc người quân tử yên nghỉ, thì phải liệu thân xếp Thần nhập thất, bảo nhất không rời, cho nên không bị thế tình ràng buộc, mà cũng không có Đạo lý chi diệu huyền, bỗng như người chết, thì mới gọi là người đại hưu biết (yên nghĩ hoàn toàn). Chừng nào ngủ mà không mộng tưởng điên đảo, thì sẽ thấy cái công hiệu của phép chủ tâm.
Tới sáng mai, đây là lúc người quân tử mỗi ngày làm thêm mới mẻ. Phải liệu dậy sớm, trong ngày lo làm những việc chưa thành.
Có người lập chí làm một lần mà nên, ta làm một trăm lần. Có người làm mười lần mà nên, ta làm lấy một ngàn lần. Nhiều ngày thành tháng, nhiều tháng thành năm, chẳng luận năm ba năm gì cả.
Nếu được như thế mà không tới bậc thánh thì chẳng có lẽ nào vậy.
Nháy mắt cũng tồn, thở hơi cũng dưỡng (phải gìn giữ cái tâm thì mới nuôi nấng cái Tính được) công phu không nên gián đoạn một giây phút nào.
Ngày này cũng tiến, tháng kia cũng thêm, học hỏi có tập hỉ (tập là tâm thuần không gián đoạn, hỉ là tâm sáng chẳng bị che) mới thật là sáng suốt.
– Có kẻ hỏi: Thiên lý làm sao tròn?
– Trả lời: Phải cần giờ giờ tồn dưỡng.
– Lại hỏi: Nhân dục làm sao cho sạch?
– Trả lời: Chỉ có bữa bữa giảm tiêu.
Con người ai cũng có lương tri, lương năng. Song lương tri, lương năng quí được là nhờ khoách sung. Khoách sung cốt ở nơi cần học ham hỏi đó thôi.
3. Cái chân tính của con người đã linh thiên mà lại thần diệu. Niệm vừa động thì nó bay đi, mà chẳng thấy hình. Nếu muốn lưu nó lại thì phải xét tận cùng cội gốc của nó. Cái cơ của chân tính thường ở mắt, mà cái nhà của nó ở tận nơi tâm.
Tâm thường thanh tịnh thì thần qui ở cội gốc, lâu lâu biến chuyển, lần lần sung vinh, chu lưu trên dưới, thì cả thân thể đều hiện sắc xuân. Trau mình thuần thục, đối cảnh quên tình, hái lấy linh dược, dụng dương chế âm, dưỡng thành thánh thai, hiện là chân nhân.
4. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Thường thường giữ được cái biết ở với ta, thì biết “tức lãm” đó.
Một lời này chẳng phải là người thấu đáo chỗ bí yếu thì chẳng nói ra được.
Còn luận về yên nghỉ mỗi ngày mới mẻ, một nháy mắt cũng tồn dưỡng, nhân dục phải bữa bữa giảm tiêu, thì lời giải trong 12 giờ chẳng thể nào quên đi được.

38. NGÔN(LỜI NÓI)

1. Lời của thánh hiền nói ra đều là sự thật (theo đó mà làm, có thể trau thân, có thể trị người).
Phàm đọc sách phải đọc cho thật hiểu, rồi nhìn cho ra cái nghĩa hiểu đó ở trong thân mình, mới có chỗ đắc lực, chẳng luống công.
Theo sách Đại Học, công phu hạ thủ (khởi công làm một việc) toàn ở tại “cách vật trí tri”.
Đọc một đoạn kinh Phật, không bằng xem kỹ một đoạn Tâm kinh, xem kỹ một quyển Tâm kinh, không bằng hiểu ba chữ “Quán Tự Tại”.
Cuốn Đạo Đức Kinh có năm ngàn chữ, mà cốt yếu chỉ ở trong bốn chữ “Hư tâm học phác”.
Cái bệnh của kẻ phàm phu là hay bàn nói chuyện thị phi của người, cái bệnh của người học Đạo là hay chấp lấy lẽ phải của mình.
Ta thường tự răn mình mà rằng: mấy năm về trước, học hỏi biết được nhiều, hay được nhiều, còn việc làm gần đây, hoặc vịnh thi, hoặc đặt bài, kiểm điểm lại xem, đều có tâm bệnh.
2. Thiên hạ trị, loạn giả điếc không nghe. Nhân gian thị phi, làm lơ chẳng luận. Hình ngáo ngáo ngơ ngơ, trí trơ trơ vọi vọi.
Xét muôn loài chẳng có, coi ba cõi đều không. Trần duyên đoạn kiếp, thần khí về nguồn, thì Đại Đạo đã xong, còn phải tìm ai nữa?
Mỗi lời thực hành, mỗi câu chiếu đối, vì ngày giờ có hạn, chớ theo lối cũ hoài.
Ai giữ lời nói và việc làm được phù hợp với nhau, thánh nhân khen người đó là người quân tử. Ta nói được mà làm không tới chỗ, thánh nhân chê ta là gỗ mục (hủ mộc), là đất phấn (phấn thổ).
– Có kẻ nói: Ông là người nhà nho, sao lại việc gì cũng đều dẫn lời của Phật?
– Trả lời: Người nhà nho đời nay thấy danh lợi thì động lòng, chỉ vụ học hư văn (học nhớ chữ, không lo thực hành) để cầu ngôi lộc.
Cũng có người chán thế bỏ trần, ra khỏi được cảnh này, nhưng lại chẳng tưởng đến Minh đức, tân dân (cái Đạo Đại Học là phải làm cho sáng cái minh đức, làm cho mới dân, là phải hướng về cõi chí thiện) là vật gì? Trí chỉ, năng đắc (biết hướng, biết chỗ phải đi tới thì mới quyết định, quyết định thì mới lặng lẽ (không tưởng sang nhiều việc khác), lặng lẽ thì mới yên ổn, yên ổn thì mới dễ bề suy nghĩ (xử việc tinh tường), suy nghĩ rồi mới có thể đặng đạt tới cõi chí thiện) là sự gì?
Họ thường hay trái với Đạo Nho mà mong cầu Tiên Phât, chẳng biết chỗ nhà Nho gọi Thánh tức là Đạo với Thích gọi là Phật Tiên đó.
Nếu ta cho lời Phật, Lão là kỳ quái mà không nói đến, thì ta chưa biết cái bí diệu của họ, mà ta với họ tranh phe lập đảng, đâu biết rằng Chân Đạo hợp một.
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Mỗi khi người đời xem sách, ta thấy họ đọc như ruổi ngựa chợ đông. Cái phần thô kệch họ còn chưa thấy rõ ràng thì sao dám bàn bạc tới chỗ tinh vi?
Sao dám mong hiểu thấu chỗ huyền diệu cho nổi?”
Người xưa nói: “Sách đọc qua một ngàn lần mới là hiểu rõ ý sách”.
Ôi nếu cứ vội gấp như vậy mãi, dẫu có đọc hết năm xe sách, cũng chẳng ích gì!”

39. TĨNH SÁT(XEM XÉT)

1. Tĩnh sát là xem xét cái tâm của mình xem trong một ngày là 12 giờ, nó ở trong mấy giờ, nó ra ngoài mấy giờ. Người làm như vậy tự nhiên có chỗ đắc lực.
Xưa có ông Trần Liệt tự xét cái tâm của mình, rồi dùng đậu đen, đậu trắng để ghi cho nhớ, hễ khởi một ý lành thì lấy hột đậu trắng bỏ vào mâm, hễ khởi một ý dữ thì bỏ vào mâm một hột đậu đen. Mới ban đầu thì đen nhiều, kế thì trắng đen bằng nhau, lâu thì đậu trắng nhiều lại lâu thêm nữa cho tới đậu trắng cũng không. Cái phép này tuy vụng về mà cũng có thể dùng được.
2. Tĩnh sát tức là xem xét, khắc trị tức là trừ lỗi, tồn dưỡng tức là chủ kỉnh (dè dặt).
Đại Đạo tuy không tu không chứng, mà trần tình phải càng giảm càng tiêu.
Con người chỉ có một cái tâm, giữ nó ở trong là cái tâm gì? Xét được nó cho rành rẽ, rồi sau mới có thể tu.
Tĩnh sát phải chăm chỉ, khắc trị phải quả quyết, tồn dưỡng phải thư thái.
Đó là ba thứ công phu thường bữa phải dùng đến luôn, cho tới chừng nào hết không còn công phu gì phải dùng nữa mới là thành công.
Có người nói rằng không cần nhọc công cũng vượt ngay qua bỉ ngạn.
Đó là trong hạng thượng trí, không chừng được vậy, chớ đâu dám nói người nào cũng đều làm như thế được cả.
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Ba thứ công phu đó là cái bí quyết phải giữ hàng ngày trong cửa thánh.
Người có chí làm Thánh, làm Hiền, chớ nên xem thường mà bỏ qua”.

40. KỈNH(DÈ DẶT)

1. Cái bản tính linh quang của người không có sinh hay diệt, mà cũng không có tăng hay giảm.
Tuy nó bị che tối lâu ngày, mà hễ vừa phát chiếu ra, thì có thể tiêu diệt muôn ngàn điều ác, mà sinh ra muôn ngàn điều thiện.
Chỉ bảo thủ linh quang cho được thường tại (còn chiếu hoài), thì ta với thánh nhân có khác gì?
Có kẻ hỏi: Làm sao mà bảo thủ linh quang cho được thường tại, phải là kỉnh không?
Duy có kỉnh mới là bảo thủ linh quang thường tại. Giới thận (răn dè), khủng cụ (e sợ).
Sách Trung Dung nói: Đạo chẳng khá bỏ lìa ra giây lát, nếu lìa ra thì chẳng phải là Đạo.
Cho nên người quân tử răn dè chỗ mình không thấy, e sợ chỗ mình không nghe, tuy không thấy không nghe chớ cũng chả dám khinh dễ là kỉnh căng căng nghiệp (nớp nớp trong lòng).
Kinh Thi nói: Nớp nớp lo sợ cũng như nghe sấm, nghe sét cũng là kỉnh.
Kỉnh thì không sinh lòng tưởng quấy, không tin việc ám mờ.
Có phải là chỗ cốt yếu để tồn tâm, cái phép tắc dùng tu kỷ đó chăng?
Từ xưa thánh nhân lấy đó mà truyền tâm cho nhau.
Nay con người sửa áo khăn định tư lự, tự nhiên sinh lòng kỉnh.
Kỉnh là chỉ phải chủ nhất thì tự nhiên là giả không xen.
Tâm chủ cái thân, kỉnh là chủ cái tâm.
2. Người bước vào chùa miếu tự nhiên sinh lòng kỉnh là vì thấy ở trên có cốt thần.
Còn ở tại thân mình cũng có một vị thần rất chân, rất thật ở nơi mặt trong, mà chẳng tưởng đến dễ dãi, chẳng biết kỉnh là cớ sao?
Trình Minh Đạo nói rằng: Lúc viết chữ, tôi rất kỉnh, chẳng phải muốn gò chữ cho tốt, chỉ học cái kỉnh mà thôi.
3. Trình Y Xuyên nói rằng:
“Châu tiên sinh dạy: Nhất nghĩa là không lòng dục”.
Kẻ tầm thường làm sao mà giữ được không lòng dục?
Chỉ có một chữ kỉnh đó, bất kỳ đi đâu cũng mang nó theo, nắm nó chặt.
Cứ như vậy là làm lúc nào cũng cứ tịnh mình đừng để mê muội, thì một hai ngày sẽ thấy hiệu quả.
Qui củ là vuông tròn tột bậc, chuẩn thằng là bằng thẳng tột bậc. Người nào bên hữu có qui củ, bên tả chuẩn thằng, thì người đó là người tột bực (hoàn toàn).
Qui củ, chuẩn thằng là gì? Là lễ đó. Lấy lễ sự kỉnh làm gốc. Trong nước không có lễ, đạo tặc dấy lên thì nước mất. Trong thân không có lễ, tình dục mạnh hơn thì thân mất.
4. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Chu tử giải chữ kỉnh là chữ nhất, nghĩa là chủ ý tưởng vào một việc mà thôi, chớ không tưởng sang qua nhiều việc khác.
Ai chủ nhất được thì tâm chuyên thần định, tư tưởng quàng xiên chẳng thể dấy lên được”.
“Phép này. Đạo gia gọi là bảo nguyên thủ nhất. Thiền gia gọi là bất nhị pháp môn”.

41. KHẮC TRỊ(TRỪ LỖI)

1. Thánh nhân có nói rằng: “Vi học nhật ích, vi Đạo nhật tôn”.
Nghĩa là: Sự học càng ngày càng thêm, việc Đạo càng ngày càng bớt. Bớt đây là bớt chỗ thái quá để đạt tới ngôi trung, là bớt ngọn để trở về gốc, là bớt nhân dục để trở về thiên lý.
Phàm trăm điều tà dục, trước cần phải khắc kỷ.
Khắc kỷ cũng như đối với kẻ thù nghịch, trước phải biết chỗ trú của chúng nó, rồi mới đem binh công phạt, phá hang, đốt ổ của chúng nó, làm cho tuyệt giống tuyệt nòi, mới là thái bình.
Tự trị phải cho nghiêm, như kẻ nông phu rẫy cỏ, trước phải đào lấy hết rễ, thì sau mới khỏi lo mọc lại.
2. Tĩnh sát cũng như trói kẻ giặc, một khắc cũng không để nó thong thả.
Khắc trị cũng như giết giặc vậy, thì phải một dao chặt lìa hai đoạn (ý nói đừng dung dị).
Những kẻ muốn trừ nhân dục thì phải làm như thế đó, rồi sau mới được thành công.
Khắc trị là trừ bỏ cái điều mình vốn không có.
Phải biết rằng trước kia sẵn có, chớ chẳng phải vì tồn dưỡng rồi sau mới có.
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “kẻ mới tán Đạo phải Khắc trị như vậy, ráng làm như vậy, mới phải là người chân học Đạo, sau này mới có thể hy vọng thành công.
Bằng không như vậy cứ mơ mơ màng màng, mai mốt thấy sốt sắng, chiều lại rụt rè, tuy tuổi già, cũng còn mắc trong sình lầy”.

42. CHÍ

1. Kinh Dịch nói rằng: “Cần kỳ bối bất hoạch kỳ thân, hành đình bất kiến kỳ nhân”.
Nghĩa là để ở phía sau lưng mình, thì chẳng có, đi nơi trước sân đình thì chẳng thấy người (ý nói động tĩnh đều chẳng sinh lòng nhân ngã).
Nhân tâm không tĩnh là bởi dục quấy rối.
Trong thân người chỗ nào cũng động cả, duy có phía sau lưng không thì không động mà thôi.
Trong cả thân mình đều có đục cả, duy có phía sau lưng không đục mà thôi.
Cho nên Văn Vương dạy người phải chỉ tâm (đem tâm để ở phía sau lưng).
Bất hoạch kỳ thân, nghĩa là vong ngã (quên ta).
Vong ngã thì cội rễ sinh lòng dục phải tuyệt.
Đây là tĩnh mà chí.
2. Trình Tử nói rằng: Tâm của người phải có chỗ ở, không chỗ ở nó nghe theo vật ngoài, thì đến đâu lại không sinh quấy.
Chữ chí có hai nghĩa:
Một là ở yên một chỗ mà chẳng dời đổi. Hai là đoạn dứt một việc mà chẳng làm lại nữa.
Hai nghĩa này giúp lẫn nhau, mà làm phương châm vào Đạo.
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Bất hoạch kỳ thân là vô ngã, bất kiến kỳ nhân là vô nhân.
Theo đây đủ thấy Văn Vương xưa kia đã dạy vô ngã, vô nhân rồi, nào phải đợi có Phật giáo nhập Trung Quốc rồi mới có luận qua vô ngã, vô nhân đâu!”

43. QUÁN

1.Con người từ khi thức dậy, lo lắng cả ngày, thật có biết cái tâm đi hướng nào đâu.
Hay là có kẻ biết cầm nó lại mà hay dùng cách cưỡng chế, cưỡng chế thì trở lại có hại cho tâm mình.
Âm Phù Kinh nói rằng: “Hỏa sinh tại mộc, hỏa phát tất khắc” nghĩa là cây sinh ra lửa mà lửa đấy lên thì họa đến cây, cây phải bị thiêu là nói về cái tâm đó.
(Cũng như nói: Tâm sinh ra tà, mà tà dấy lên thì hại đến tâm, rồi tính phải loạn).
Cái tâm rất hoạt bát và thần diệu, phải bình cái tính của nó, thuận theo cái cơ của nó để dưỡng nó, chẳng cho một mảy phóng dật, một mảy miễn cưỡng, một mảy gián đoạn, thì mới có thể gọi là phép dưỡng tâm.
2. Đức Khổng Tử nói rằng: chỉ vu chí thiện (chăm chỉ về tột lành, lấy đó làm căn để cho mỗi việc làm).
Đức Lão Tử nói rằng: Tựa hoặc tồn
(Đạo Đức Kinh, chương thứ tư nói: “trạm hề, tựa hoặc tồn”, nghĩa là cái Đạo thanh tịnh vô vi không thấy hình dạng, dường như có, chứ không phải thật không).
Phật nói rằng: Quán tự tại
(nghĩa là xem ngược vào chỗ tự tại, tức là chỗ không đầu không cuối, bất sinh bất diệt. Theo Nho và Đạo, chỗ tự tại này không phát ra vô cực, mà phát ra là thái cực).
Số là do cái thần của con người ở trong tâm, mà cái cơ tâm là ở ngoài mắt.
Hễ mắt ngó vào trong thì tâm cũng theo đó mà vào trong, nên mới nói là: quán tự tại.
Quán tức là phản quán (xem ngược lại).
Mắt ở tại đó thì tự nhiên tâm cũng ở tại đó. Nếu con người xem ngược vào đó, lâu rồi chẳng những tâm ở tại đó mà rốt cuộc cũng sẽ định nữa.
Thần khí hễ được định, thì hoảng hốt (dáng mập mờ) như mới tỉnh giấc, kỳ thật như trời đất giao thời, khó mà tả chỗ huyền diệu cho cùng tận.
Liễu Tâm Kinh nói rằng: Ta tu không biết mấy ngàn kiếp đến giờ, nhờ quán tâm mà đắc Đạo.
3. Khi mặt trời lặn thì ở trong nhà, cái tối này ở đâu lại cũng không biết. Đến lúc đốt đèn lên thì cái tối kia đi đâu cũng không rõ. Không lẽ ánh đèn đuổi bóng tối, bóng tối có có tính gì mà sợ đèn?
Phải nên hiểu rằng: hễ đầu này có thì đầu kia phải mất, không phải hao một tí sức lực gì cả.
Có thể lấy ánh đèn mà ví cho sự giác chiếu, lấy bóng tối mà dụ cho tính vô minh.
Phải xét tưởng rằng các pháp quá khứ mập mờ như trong giấc mộng, các pháp hiện tại mau lẹ như thấy điện chớp xẹt, các pháp tương lai đen tối như thoa sơn đen.
Lại xét tưởng rằng hết thảy các pháp hữu vi trong thế gian vụt chốc biến hoại, muôn kiếp đến giờ ta vì nó mà chịu biết bao nhiêu khổ não, vậy nên sớm tránh cho xa.
Đi, đứng, nằm, ngồi đều luôn luôn thực hành hai phép Chỉ Quán.
Chỉ là tịnh tịnh (lẳng lặng: định tâm),
Quán là tịnh tịnh (kính giác) nghĩa là lẳng lặng mà chẳng mê muội.
– Có kẻ hỏi: sao gọi là minh tâm (sáng cái tâm).
– Trả lời: Hư tâm (trống cái tâm) tức là minh tâm. Bốn tướng (ta, người, chúng sinh, thọ giả) tuyệt như không, muôn pháp đều chẳng động.
– Sao gọi là kiến tính (thấy cái bản tính)?
– Trả lời: Suất tính (noi theo cái tính) tức là kiến tính, chẳng biết chẳng hay là phép của Thuấn Đế (mỗi việc cứ nương theo tính trời phú mà hành động một cách tự nhiên đừng miễn cưỡng, đừng sinh tâm nghi ngờ).
4. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng:
“Mạnh Tử nói: Đạo học vấn không có gì khác hơn là cầu kỳ phóng tâm (tìm cái tâm phóng ra ngoài mà đem ngược trở về).
Kinh Dịch nói rằng: Thành tính tồn tồn, Đạo nghĩa chi môn (giữ tính thành khư khư, đó là cửa Đạo nghĩa).
Vậy thì đủ biết, cái tâm của con người dễ phóng mà khó thu.
Cốt yếu của học vấn ở tại đó, công phu hạ thủ cũng ở tại đó.
Nếu như biết mỗi giờ mỗi khắc tự hồi quang phản chiếu, công phu ít thì sẽ thấy tính sáng tâm, còn công phu nhiều tất sẽ thành Tiên làm Tổ.
Câu “Quán tâm mà đắc Đạo” trong Liễu Tâm Kinh có phải là lời nói dối gạt ai đâu?”

44. TỒN DƯỠNG

1. Tồn dưỡng, hai chữ vốn chẳng lìa nhau. Nếu chẳng tồn (cầm lại) được, thì dưỡng (nuôi nấng) cái gì?
Tồn cái tâm của mình tức dưỡng cái tánh của mình.
Chưa phát ra thì phải tồn dưỡng, đã phát rồi thì phải tĩnh sát, thấy ý riêng thì phải khắc trị, khắc trị xong lại phải tồn dưỡng. Ba phép này hỗ trợ lẫn cho nhau, một khắc cũng chả nên gián đoạn.
Tồn tâm chẳng phải lấy sức mà tự kéo nó lại. Chỉ phải gìn lòng trong sạch, ít tham dục mà thôi.
Phải biết rằng hễ mình sáng suốt (giác) thì cái tâm này nó lại, mình chẳng sáng suốt thì nó đi.
Vậy phải làm sao có tâm mới thường sáng suốt, thường chẳng đi ra ngoài? Chỉ nhờ tập cho nó quen tính mà thôi.
Thường thấy người ta nuôi chim rừng, tuy nó chẳng phải là loài thú nhà, mà vì nuôi lâu nó quen, thả ra nó cũng không chịu đi. Huống chi cái tâm là món vật ở trong thân ta, dưỡng cho nó quen rồi, thì có lẽ nào nó còn muốn đi đâu nữa.
2. Chu Tử nói rằng cái công hàm dưỡng bản nguyên (tồn dưỡng cái thiên tính của mình) rất dễ gián đoạn. Nhưng mà vừa biết gián đoạn tức là trong đó có chắp nối lại rồi. Chỉ cần thường tự đánh thức, góp nhặt từng phân, từng tấc, thì chỗ đứt lâu tự nhiên liền lại, làm một mà thôi.
Hễ tinh, khí, thần dưỡng theo phép mà tăng tiến thì sống, còn thất chỗ dưỡng mà tiêu hao thì chết.
Thử xem hàng ngày, thì sống chết có thể tự biết mình được, không cần phải dùng phương pháp gì nữa.
Cái công phu của người học Đạo thì một ngày phải một thêm cẩn mật, lâu được thuộc quen, thì chừng đó mới là cùng Đạo hơp làm một vậy.
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Con người hay phản quán thì thần khí trọn về phía trong. Thần khí đã về phía trong thì có lẽ nào không được khước bệnh diệu niên (hết bệnh thêm tuổi) hay sao?
Trong cuốn ngữ lục của Khâu Tổ, ngài lấy đó mà dẫn người ta vào Đạo. Nhưng có người chẳng tuân, không chịu tuân theo, là tại sao? Ấy là công phu tồn dưỡng khó mà quen được.
Hễ quen thì thành một, theo Nho thì gọi: tức tâm tức lý, theo Thích thì gọi là: tức tâm tức Phật, theo tiên thì gọi là: giữ Đạo hiệp Chân (cùng Đạo hợp một lý chân).
Người thế đi nửa đường rồi bỏ ngang, đều là bởi tâm sinh. Hễ tâm sinh thì công phu gián đoạn.
Trong cuốn Tây Du Ký, tới hồi thứ 97 và 98, tác giả mới dám nói vượn thuộc ngựa quen. Ôi cái tính quen thuộc này có phải dễ mà nói ra đâu!”

45. GIỚI
1. Con người từ lúc sinh ra, làm mỗi việc đều theo nhân dục. Sự tập nhiễm đã in sâu rồi, một mai muốn thanh tịnh, chẳng phải là chuyện dễ. Cho nên trước phải trì giới (giữ các điều răn cấm). Trì giới là phải tịnh ba nghiệp. Ba nghiệp là gì? Là thân, khẩu, ý (mình, miệng, lòng).
 Chẳng hại giết, chẳng trộm cướp, chẳng dâm bôn, là tịnh tu thân nghiệp.
 Không nói láo xược, không nói đùa bỡn, không đơm thọc hai đầu, không chửi rủa, là tịnh tu khẩu nghiệp.
 Trừ tham, sân, tà niệm, là tịnh tu ý nghiệp.
2. Ngó, nghe, nói, làm, theo ý vật của Nhan Tử (phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi Lễ vật động). Nghĩa là: Điều chẳng phải lễ mắt đừng ngó tới, điều chẳng phải lễ lỗ tai đừng nghe tới, điều chẳng phải lễ miệng đừng nói tới, điều chẳng phải lễ chân tay đừng đụng tới, là phép trì giới cao thượng.
Khắc, phạt, cán, dục như bất hành của Nguyên Hiến. “Khắc, phạt, cán, dục bất hành diện, khả dĩ vi nhân hỷ?”. Nghĩa là ngăn cấm chẳng cho phát ra ngoài những tư tình ở trong tâm (bất hành) như khắc là háo thắng, phạt là khoe mình, oán là hờn giận, dục là tham lam, có thể đạt tới bậc nhân chăng?
Đức Khổng Tử đáp rằng: khó mà ngăn cấm. Theo ta thì chưa phải là nhân. Tại sao chưa phải là nhân? Vì nhân là vòng thiên lý, không có bốn bệnh nói trên. Ngăn cấm chỉ là cưỡng chế, cuối cùng các bệnh vẫn còn, cho nên chẳng đạt tới bậc nhân được, vì thế là phép trì giới thô sơ.
Đức Khổng Tử nói rằng: “Người quân tử có ba điều răn (là: hồi nhỏ răn sắc dục, lớn lên răn tranh đấu, lúc già răn lòng tham) là bởi người quân tử thường giữ cái tâm giới thận (răn dè), một đời chẳng để khí huyết nó xử mình. Lại nói rằng: Người quân tử có chín điều suy nghĩ là bởi người quân tử tâm thường tỉnh tỉnh (cảnh giác), chẳng cần giữ răn cấm mà tự nhiên chẳng có gì là không y răn cấm.
3. Thủ Lăng Nghiêm kinh nói rằng: “Nhiếp tâm vi giới, nhân giới sinh định, nhân định sinh huệ”, nghĩa là: kìm tâm mình là giới, nhờ giới sinh định, nhờ định mà sinh huệ.
4. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Tịnh tu ba nghiệp là điều răn của Thiền môn, tứ vật cửu tư (bốn cái đừng, chín điều nghĩ) là điều răn của Nho môn, kẻ mới vào học, chẳng khá không mỗi khắc tuân hành, người tới nhà rồi (trọn thành công) chẳng khá không mỗi điều quét sạch”.

46. ĐỊNH

1. Sách Định Tính nói rằng: Định lấy nghĩa là động cũng định mà tịnh cũng định, nói định ở trong mới phải, ở ngoài chẳng phải. Không bằng trong ngoài đều quên. Quên cả hai thì trong tâm mới thật lắng trong vô sự. Vô sự mới định, thì khi ứng tiếp có gì làm lụy cái tâm được.
Tâm nó vốn định, nếu chẳng thấy định, thật do niệm làm lụy. Nếu như dứt niệm giữ tâm, không có gì làm loạn cái tâm này nữa. Thì tâm tự nó định.
Tổ Vân Môn nói rằng: Sơ thiền niệm trú, nhị thiền tức trú, tam thiền mạch trú, tứ thiền diệt tận nhập đại định. Nghĩa là: bậc thiền định thứ nhất là hết niệm, bậc thứ hai là hết thở, bậc thứ ba là hết mạch, bậc thứ tư là diệt hết nhập vào cảnh đại định.
2. Phải biết rằng phép định có ba loại:
 Thiên sinh Định nghĩa là bản tính tịch nhiên (vắng lặng) vốn tự mình chẳng động.
 Tu thành Định nghĩa là nói: hàm dưỡng đến thuần túy, tự tính lắng trong.
 Vũ thái Định nghĩa là nói: hư tâm thuận lý (trống lòng theo lý), làm theo lối vô sự.
Trang Tử nói rằng: Vũ thái định phát sinh thiên quang (Vũ thái định nghĩa là: khí vũ: rộng rãi, nhàn thái: thảnh thơi, thì được tịnh định. Thiên quang nghĩa là ánh sáng tự nhiên do thiên tính phát sinh chứ không phải tự ý thức của người làm ra được).
Người xưa đắc Đạo là nhờ dùng sự điềm đạm mà dưỡng trí.
Trí sinh ra mà không biết dùng vào đâu, gần ngủ mà chưa ngủ, thế sự không biết đến, thân tâm tịnh chẳng động, ấy là tới lúc phát ra tam muội (samadhi).
Luận về nguyên nhân thì gọi là chỉ quán, luận về kết quả thì gọi là định huệ.
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Quên cả hai tức là cách tọa vong (ngồi quên) của Nhan Tử. Tới lúc cả hai đều quên thì có lo gì không định”.

47. HUỆ
(TRÍ SÁNG)
1. Ngạn ngữ nói rằng: Lòng người như nước, để nó lắng trong thì mới có thể soi mặt mày. Nếu khuấy đục lên thì ngôi trời đất đảo lộn.
Phải biết rằng huệ có ba đường:
 Nhân không Huệ nghĩa là rõ pháp vô sinh, nên vô ngã, vô nhân.
 Pháp không Huệ nghĩa là biết năm uẩn và các pháp làm nhân duyên (sinh ra muôn vật) là giả chứ không phải thật.
 Không không Huệ nghĩa là hiện cảnh và trí đều không và cái không này cũng là không nữa.
2. Kẻ mới tập tu định thình lình phát ra thần thông, hoặc biết việc quá khứ đời trước, hoặc biết việc tương lai ngày sau, hoặc được Trí Tha Tâm Thông, nói năng thông suốt.
Đó là không gì khác chỗ nhà Nho ta nói: “Chí thành chi đạo, khả dĩ tiên tri”, nghĩa là người được Đạo chí thành, có thể tự mình biết trước sự sẽ đến, là như vậy đó.
Kẻ học Đạo tới bậc đó hay say đắm về đường danh lợi, về sự cung kính của thế gian. Làm như vậy là thuộc về hữu lậu (nghĩa là còn gây nghiệp phải bị đầu thai) lưu chuyển trong vòng tam giới (lậu), thần khí vì đó mà chẳng bền vững, nên thành thi giãi (là những người tu tiên chưa thành công quả mà xác hoại phải bỏ xác (chết). Hạng này có thể đoạt xác, nghĩa là cướp xác của trẻ con mới đẻ hay là xác của người lớn vừa chết, như ông Lý Thiết Quài mượn xác của tên ăn mày què chân mà tu thêm cho đến liễu Đạo vậy) phải mau bỏ cái phép hữu lậu ấy đi, vì nó là phép hư vong.
Đạo Đức Kinh nói rằng: “Tục nhân chiêu chiêu, ngã độc hôn hôn, tục nhân sát sát, ngã độc muộn muộn”, nghĩa là kẻ tục sáng rỡ, chỉ ta mập mờ, kẻ tục biện xét, chỉ ta thờ ơ.
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: Nước trong có thể soi thấy mặt mày, tâm trong có thể rõ biết sinh tử. Trong cho đến mức vô ngã vô nhân ấy mới là chỗ sinh tử chẳng tương quan (chỗ sinh tử không còn ràng buộc ta nổi nữa) là cơ quỉ thần không thể xét thấy.
Cho nên được gọi là Cực Lạc thế giới.

48. THÀNH(CHÂN THẬT)

1. Một bộ Trung Dung chỉ nói về chữ thành. Chọn điều lành mà gắng giữ, là việc làm để đạt tới lòng thành.
Sách Trung Dung, chương thứ hai mươi nói rằng: người được trọn vẹn chân thật chẳng phải ra sức tốn công mà làm đúng theo Đạo, cũng chẳng cần phải lo nghĩ mà làm theo đó được ngay, thảnh thơi mà làm đúng Đạo là bậc thánh nhân. Kẻ muốn được chỗ chân thật (mà mình chẳng có hay chẳng có hay là đã mất đi) thì trọn điều lành mà gắng giữ (chỉ kẻ học giả).
Tham tán vị dục (sách Trung Dung chương 22 nói rằng: “khả dĩ tán thiên địa chi hóa dục, tất khả dĩ dữ thiên địa tham hỷ”, nghĩa là có thể giúp việc biến hóa sinh dục của trời đất thì mới có thể xen vào hàng trời đất, nghĩa là ở hàng trời đất mà trợ giúp trời đất yên ngôi muôn vật thỏa sống, là công trình của vật chí thành.
Chí thành (được trọn chân thật), gọi là thánh, tức là Thiên Đạo (Thiên Đạo và Nhân Đạo khác nhau ở chỗ cố gắng và không cố gắng). Tồn thành (gắng giữ chân thật) gọi là hiền, tức là Nhân Đạo.
Làm theo trời mới được nên người. Trọn vẹn Đạo người mới có thể hợp cùng trời. Cho nên nói: đến khi thành công rồi chỉ có một mà thôi.
2. Đạo của trời đất chỉ nhờ có lòng thành mà sinh dục được muôn vật, Đạo của đế vương chỉ nhờ có lòng thành mà cảm hóa được muôn dân, Đạo của thánh hiền chỉ nhờ có lòng thành mà trợ giúp được muôn vật.
Dè dặt một mình (độc thân)(dè dặt chỗ một mình mình biết và mình nghe) khoách sung mối lành, là cái công phu rất trọng yếu để cầu thành mỗi ngày.
Chí thành có thể cảm động trời đất, quỉ thần. Trong khắp khoảng trời, không đâu là chẳng có quỉ thần. Người tuy chẳng thấy quỉ thần, chứ sao lại chẳng thấy trời đất.
Quỉ thần là cái linh diệu của trời đất, trời đất là cái dấu tích của quỉ thần. Người quân tử sợ mạng trời là cốt ý sợ quỉ thần đó. Người thế gian dám làm điều lành, chỉ sợ người biết mà chẳng sợ trời biết. Kẻ sợ người biết là đối trá, đó là kẻ tiểu nhân. Người sợ trời biết là chân thật, đó là người quân tử.
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Nhà Nho trừ hết dối trá, thì gọi là chí thành. Chí thành là thánh nhân. Phái Đạo luyện hết âm tà thì gọi là thuần dương. Thuần dương đó là chân nhân. Sao chẳng biết thành tức là chân, chân tức là thành vậy?”
Người xưa nói rằng: thiên hạ vô nhị Đạo, chi nhân vô lưỡng tâm, nghĩa là: dưới trời không hai Đạo, thánh nhân chẳng hai lòng. Lời này thật đúng lắm!

49. HIẾU

1. Hiếu là cội gốc trăm hạnh, là đầu nguồn muôn điều lành. Lập thân hành Đạo là cái hiếu trọn đời.
(Cuốn Hiếu Kinh nói rằng: mình vóc tóc da, là của cha mẹ, chẳng làm hư hoại là cái hiếu trước tiên làm nên thân phận, làm điều Đạo nghĩa, để tiếng tốt tới muôn đời sau vẻ vang cho cha mẹ là cuối việc thảo vậy).
Hầu hạ dưỡng nuôi cha mẹ là cái hiếu muôn thủa.
Lời xưa nói rằng: Cha mẹ sinh ra vẹn toàn, thì tới chết con cũng phải giữ toàn vẹn. Mỗi lần đưa chân, mỗi lần động niệm, chẳng dám quên cha mẹ. Đừng làm lỗi gì phải nhục đến thân mình, táng lương tâm, xấu cha mẹ mới được gọi là hiếu.
Ta lại thường nói: Trời đất sinh ra vẹn toàn thì tới chết người cũng phải giữ toàn vẹn. Mỗi lần đưa chân, mỗi làn mở miệng mỗi lần động miệng, chẳng dám trái với trời đất.
Đừng làm lỗi gì phải nhục đến thân, táng lương tâm, nghịch chân lý, mới gọi là nhân.
Cha mẹ là trời đất trong nhà. Con hiếu thờ cha mẹ là thờ trời đất. Cha mẹ thương thì vui mừng chẳng quên, cha mẹ ghét thì dù nhọc nhằn cũng chẳng oán.
Trời đất là cha mẹ của muôn vật. Con người thờ trời đất cũng như thờ Cha mẹ.
Ơ địa vị giàu sang phát đạt mà chẳng vượt vòng phép tắc. Đang mang vận nghèo hèn hoạn nạn mà không sai trung chính (xảo trá, hà lạm).
– Có kẻ hỏi: Cha mẹ đã mất thì làm sao mà giữ Đạo hiếu?
– Trả lời: Cái thân của con là cái thể của cha mẹ để lại, cố giữ đừng để cho nó hư hoại, đó là thờ cha mẹ đó.
Cái tính của người ta là cái điểm sáng suốt của trời đất ban cho, khéo nuôi đừng để cho nó tán, đó là thờ trời đất đó.
2. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Người được thành Thánh thì kẻ khác gọi cha mẹ mình bằng Thánh Phụ, Thánh Mẫu.
Người được thành Tiên thì kẻ khác gọi cha mẹ mình là Tiên Phụ. Tiên mẫu.
Người được thành Phật thì kẻ khác gọi cha mẹ mình là Phật Công, Phật Mẫu.
Còn người cả đời dung tục, ta chẳng biết kẻ khác gọi cha mẹ nó là cái gì?!”

50. ĐỨC

1. Người đời ít ai đạt được Đạo. Chẳng phải là Đạo khó được, tại vì biết chưa đúng, giữ không bền.
Muốn hành công phu nhập đức (vào cõi đức hạnh), trước phải biết cơ vi (mỗi sự biến hóa đều từ ẩn vi mà phát ra hiển hiện, từ sự giản dị mà biến ra phức tạp). Đây nói cơ vi trong tâm người.
Muốn hành công phu sùng đức (quí trọng đức hạnh), trước phải giữ thành ý.
Muốn hành công phu tu đức (trau sửa đức hạnh) trước phải cải đổi về lành.
2. Thánh nhân nói rằng: “Xá đức chí nguyên tỷ ư xích tử”, nghĩa là cái gốc chứa đức ví như con đỏ. Con người khi mới ban đầu, ai lại không phải là con đỏ? Chỉ trừ cho sạch hết tập nhiễm là trọn vẹn đức hạnh của thánh nhân.
Vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bạn hữu là năm cái đại Đạo của thiên hạ. Bỏ năm bậc này đi mà nói Đạo đó là ngoại Đạo.
Trí, nhân, dũng là ba cái Đạo đức của thiên hạ. Bỏ ba thứ nay ra mà nói đức, tức là bội đức (trái với đức).
Người xưa mỗi lần giận có thể làm cho thiên hạ yên. Ta nay cũng lấy cái giận ấy mà làm cho tâm mình yên, đó mới là đại dũng. Dũng phải có trí trợ sức, có nhân làm cho thành công.
Trí nghĩa là giác mà không mê. Nhân nghĩa là thuần mà chẳng tạp. Ba thứ này phải cho đủ mới được gọi là chí đức. Chí đức được lập thành thì Đại Đạo mới ngưng kiết (tụ thành tốt).
3. Đức Khổng Tử nói: Cố ư đức, có nghĩa là nắm chặt đức, đừng nản chí ngã lòng. Có cái tính này thì một lần được việc gì là được luôn luôn chẳng khi nào sợ mất. Cố lâu ngày rồi quen, quen rồi tự đổi ra nhân.
4. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Chu tử nói: Đức là đắc (được). Đắc là hành Đạo có sở đắc trong tâm.
Chúng ta bình thường nên xét lấy mình, xem quả thật có chân tri không? Quả thật có chân đắc không? Hết thảy chỗ nghe, chỗ thấy có được chín chắn không? Nếu có thì phải gắng sức làm thêm, bằng không thì tự hỏi mình có yên được không?”

51. NHÂN

1.Nhân giả nhân dã, nghĩa là: nhân tức là người vậy. Kẻ bất nhân mà muốn thành chân nhân thì chẳng hề có bao giờ.
Theo ta hiểu, nhà Nho gọi là chân, tức là chỗ Phật gọi là xá lợi, Tiên gọi là kim đan.
Tâm là cái nhà của nhân, nhân là người chủ trong tâm. Chỉ đem cái tâm này mà quét cho sạch không, thì nguyên khí sẽ phục hồi, tay chân thân thể đều khỏe khoắn, quay lại xem muôn vật cũng đồng một vẻ đẹp vui.
Cho nên nói: “Nhất nhật khắc kỷ phục lễ, thiên hạ qui nhân”, nghĩa là một ngày sửa mình theo lễ (chế trừ phần tư dục mà trở lại phần lẽ phải tự nhiên) thì muôn việc trong thiên hạ đều theo về nhân cả.
Cái lý sinh sinh của trời đất gồm ở trong tâm, người ta gọi là nhân, hạt ở trong trái gọi là nhân.
Sao người ta không lấy cái lý sinh sinh mà tồn dưỡng nơi tâm?
2. Ngô Lâm Xuyên nói: “Nhân giả thọ”, nghĩa là người có nhân được sống lâu. Ta thường theo đó mà xét người thiên hạ.
Phàm người nào có khí ôn hòa thì sống lâu, có chất hiền lương thì sống lâu, có lượng khoan hồng thì sống lâu, có tướng trầm trọng thì sống lâu, có lời chất phác thì sống lâu. Tất cả cái đó đều là nhân nên sống lâu là phải.
Lâm Xuyên chỉ luận một mối mà sống lâu thay. Huống hồ có đủ năm đức nói trên thì càng sống lâu hơn nữa, tưởng không cần hỏi ai cũng đủ biết.
Sách Luận ngữ nói: “Nhân giả nhạo sơn” người có nhân thì ưa núi. Vả chăng núi là vật từ xưa tới nay không dời đổi, người có nhân thường tịnh (thần ngưng, khí tụ, tinh đủ, hình bền) há lại không sống lâu sao?
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “thầy Nhan Hồi hỏi về chữ nhân, đức Khổng Tử dạy phải khắc kỷ phục lễ, là làm Càn Đạo khiến một Đạo chia hai đoạn. Tức chỗ nhà Thiền gọi là đốn giáo. Trọng Cung cũng hỏi về chữ nhân, đức Khổng Tử dạy phải giữ lòng thành kính, làm Đạo thứ (nghĩa là suy lòng ta ra lòng người) là làm khôn Đạo, khiến phải theo thứ tự mà đi dần tới. Tức chỗ nhà Thiền gọi là tiệm giáo”.

52. TỊNH

1.Ngạn ngữ nói rằng: “Thánh nhân chủ tịnh lập nhân cực” nghĩa là thánh nhân chủ về phép tịnh cốt là để đạt tới ngôi tuyệt đích của con người. Đó là ngôi đại trung.
Những bậc thánh nhân chủ về phép tịnh chẳng phải cho phép tịnh là hay mà để ý vào đó. Thật ra nếu muôn vật không đủ làm náo loạn cái tâm mình, thì chẳng cầu tịnh mà tự nhiên được tịnh.
Nay có kẻ cầu tịnh mà chưa được chân truyền đều nói: xiềng chặt con vượn tâm, cột cứng con ngựa ý. Đến khi xiềng cột không được bèn cho cái tâm này dù làm thế nào cũng không tịnh được.
Sao chẳng nghĩ lại, lỗi ấy tại chẳng trí tri. Trí tri thì sáng suốt, sáng suốt thì thấy được cái lý trong thiên hạ đều là đình đình đáng đáng (xem lại bài “Vật”), một mảy ý riêng không dính dấp với nó được. Đây là chỗ gọi: Tri chỉ nhi hậu hữu định, định nhi hậu năng tịnh, tịnh nhi hậu năng an (tri chỉ là biết chỗ xu hướng, tức cõi chí thiện là ngôi đại trung. Ngoài quên danh lợi thì thân yên, trong quên tư lự thì tâm yên). Người đều nói thân yên tức là phúc. Có kẻ nói tâm yên tức là Đạo.
2. Tổ Huệ Khả yết kiến Đạt Ma sư tổ và bạch rằng:
“Cái tâm của con chẳng an, xin Thầy dạy cho phép an tâm”.
– Đạt Ma nói: Ngươi đem cái tâm lại đây rồi ta sẽ an cho.
– Khả trả lời: Con tìm tâm mãi mà chẳng hề được.
– Đạt Ma nói: Vậy là ta đã an tâm cho ngươi rồi đó!
Khả tức thì tĩnh ngộ. Sau tâm êm đềm, Khả bèn nói kệ rằng:
Ba cõi tìm tâm, tâm chẳng thấy,
Trong lòng hỏi vọng, vọng xưa không.
Vọng nguyên không xứ tức Bồ Đề.
Vậy mới gọi là Chân Đắc Đạo.
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Người nào trong quên được tư lự, ngoài quên được danh lợi, thì cái công phu chủ tịnh kia chẳng cần nói đến nữa.
Nếu danh lợi chưa trừ, tư lự chưa dứt, dù có tịnh cũng chỉ được chốc lát mà thôi, chẳng được lâu dài.
Kiềm thúc hay tự nhiên, xét thấu hay chưa xét thấu, nếu sai một hào ly thì đã thấy cách xa như một trời một vực”.

53. LẠC

1. Vui có gì vui bằng đắc Đạo, dân chúng đắc Đạo vui hơn bậc vương hầu. Khổ có gì hơn thất Đạo, vương hầu thất Đạo khổ hơn người xách bị.
Một ngày học Đạo, một ngày sung sướng, ngày học Đạo, ngày ngày sung sướng, chung thân học Đạo, chung thân sung sướng. Học Đạo là pháp môn an lạc, cho nên thánh nhân học mà không nhàm.
Châu Mậu Thúc dạy hai họ Trình tìm chỗ vui của Đức Khổng Tử, thầy Nhan. Cái vui này ở trong thân người, cầu ngược vào trong thì tự nhiên có đủ.
Mạnh Tử nói rằng: “Người quân tử có ba điều vui:
1- Vui về thiên luân (cha mẹ song toàn, anh em vô sự),
2- Vui về tính phận (ngước lên chẳng hổ cùng trời, cúi xuống không thẹn với người),
3- Vui về danh giáo (tự hiệp bậc anh tài, chỉ dạy cho biết Đạo).
Cái vui ở đâu trên trời hay là ở tại người khác, ta không thể chắc cầu được.
Còn cái vui ở nơi ta, sao mà chẳng lấy hết sức mình để cầu cho được nó vậy?
Ngay người ta có ai bị kẻ khác sai khiến chăng.
Có ai bị muôn vật sai khiến chăng?
Có ai bị hình thể sai khiến chăng?
Người nào trừ được ba thứ sai khiến này thì mới có thể nói chuyện đến sự vui với họ.
Thường thấy kẻ đa mang công việc hết sức, hết gân, chỉ mong buông ra mà nghỉ, thì nghe khoái sướng trong mình lắm.
Người học Đạo, nếu buông nghỉ được lại vui gấp mấy muôn lần hơn kẻ thế.
2. Khoảng mấy năm trước, ta đi đường xa mà gặp nắng gắt, thấy một ông già ngồi trong nhà mát, ta cho ông ấy là cực kỳ sung sướng.
Nay ta nhàn rỗi ngồi dưới gốc cây, tăng che mát mẻ mà chẳng thấy gì là sung sướng hết. Sao vậy? Năm trước ta đang cực nhọc mà thấy người thong thả, mới có cái tư tưởng ấy.
Ý giả, có phải nghèo thấy giàu, hèn thấy sang mà đều như thế chăng?
Làm người, ai ở địa vị nào thì cứ làm theo địa vị ấy, thế thì không cảnh nào mà chẳng tự đắc (toại chí).
Phàm để tâm ước mơ ra ngoài, không có chi ích cả. Hết thảy các phan duyên (giải từ chữ thức) nghiệp trải, phải quấy, tội phúc đều do nơi một niệm ước mơ ra ngoài đó mà phát khởi, vậy chẳng nên dè dặt sao?
3. Bạch Tẫn lão nhân nói: “Học Đạo là pháp môn an lạc, người hay cho nó là khổ, còn danh lợi là việc cực nhọc mà trái lại người ta cho nó là vui.
Huệ nhãn với nhục nhân tự nhiên phải có chỗ khác nhau là thế!”.

54. THÁI CỰC

1. Thái cực là tổ sinh lưỡng nghi (âm – dương), lưỡng nghi là tổ sinh trời đất. Trời đất là tổ sinh muôn vật.
Tu thân bằng tổ khí thì thân được vững bền.
Vẽ bùa với tổ khí thì bùa sẽ được linh nghiệm.
Ở trong con người, thái cực gọi là huyền tẫn. Ấy là hai thứ chân tinh diệu hợp, tự nhiên mà tạo thành.
Nó là gốc của thiền khí, cũng là khiếu của tinh mạng.
Đại khái xem xét cái Đạo của trời, noi theo cách vận hành của đất, làm hai việc đó thì trọn rồi.
Một âm một dương hai cái phối hợp cùng nhau, là cái cơ Đạo của trời đất.
Nhật nguyệt vòng xoay, ngày đêm hợp sáng với nhau là cách vận hành của trời đất.
Cho nên nói: Trời đất sắp xếp theo ngôi thứ có “dịch” vận hành ở giữa. Nói “dịch” là chỉ khảm ly.
Thánh nhân biết như thế nên mới lấy “càn, khôn” làm đỉnh khí, lấy ô thố làm dược vật. Ở trong đó khi phát khi tàng, khi đầy khi vơi, có số cũng phải lấy hỏa hậu mà toán định.
2. Âm phù kinh nói rằng: “Nhật nguyệt hữu số, Đại tiểu hữu định, Thánh công sinh diên, Thần minh xuất diên”, nghĩa là mặt trời mặt trăng có độ số (chu thiên), lớn nhỏ (âm dương) có nhất định, thánh nhân theo đó mà hành công phu, tự nhiên có thần minh (thiên cơ tạo hóa) phát lộ.
Tóm lại trộm được cái máy nghịch dụng (vận dụng đi ngược trở lại) là đủ rồi.
Trời đất phân vẽ, nhật nguyệt vần xoay, chiếu diện hợp sáng, thì tạo hóa sinh vậy.
Nhật nguyệt là tinh tấn của trời đất, của âm dương.
Nói theo bát quái tức là khảm ly.
Ô tinh là khí âm trong quẻ ly, thố tủy là khí dương trong quẻ khảm.
3. Theo phép luyện đan thì lấy ô thố (mặt trời, mặt trăng) để làm khí, dược vật (vị thuốc), chẳng qua là biết cái tinh ba của ngũ tạng, rồi chọn cái cơ nhu nghịch dụng mà thôi.
Chỗ cốt yếu là tại mặt trăng mọc lúc canh cơ (trăng lưỡi liềm mùng ba – mới phát sinh kim khí) diên khí sinh hồi quí hậu (khí có thủy rồi).
Nhật nguyệt sáng, âm dương hòa khí, tự nhiên mà đan thành. Cho nên hình chữ đan do hai chữ nhật nguyệt hợp lại.
– Có kẻ hỏi: Sao mà gọi là kim dịch hoàn đan?
– Trả lời: Vật mất rồi mà tìm lại được gọi là hoàn. Thân lấy kim khí ở trong thủy, hợp với khí nóng của ta, mà được thành công thì gọi là kim dịch.
4. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Thái cực là lý, là tính. Lưỡng nghi là khí là mạng.
Kỳ thật, ngoài lý không có khí, ngoài khí không có lý, đủ thấy tính mạng chẳng phải ở hai chỗ riêng.
Tu tính tức là phương dưỡng mạng, cũng như đầy bụng (thật phúc) tức là phép trống lòng vậy (hư tâm) (Đạo Đức Kinh)”.

55. TRUNG

1. Những bậc thánh nhân xưa truyền lại cho nhau, chỉ có một chữ trung chẳng chênh lệch, chẳng dựa nương, là cái thể chữ trung. Chẳng quá chừng, chẳng không kịp, là cái dụng của chữ trung.
Vua Nghiêu nói rằng: Doãn chấp khuyết trung, nghĩa là tin chắc nắm giữ chữ trung của mình. Chấp trung đây là nói gồm luôn về động, về tĩnh. Tịnh thì giữ chữ trung ấy để tồn tâm (dưỡng tinh thần), động thì giữ chữ trung ấy để ứng sự (đối người, vật). Doãn nghĩa là tin chắc. Có cái ý do thời kỳ, tùy sự vật, tự nhiên mà nắm giữ chữ trung, chớ không có một mảy may miễn cưỡng, gián đoạn nào cả.
2. Vua Thuấn nói rằng: Duy tinh duy nhất. Rõ thấy chỗ huyền vi, gọi là tinh, trước sau giữ một dạ gọi là nhất. Ý nói làm người phải nghe thấy cho “duy tinh”, giữ chí được “duy nhất”, rồi sau mới có thể nắm giữ chữ trung.Trong chữ doãn là có cái ý này, nhưng sợ người không hiểu thấu nên vua Thuấn mới nói rõ thêm rằng: “Nhân tâm duy nguy. Đạo tâm duy vi”, nghĩa là lòng người rất rắc rối (khó yên), lòng Đạo rất nhỏ nhẹm (khó biết). Có niệm tưởng là lòng người, không niệm tưởng là lòng Đạo, ý nói lòng người dễ lừng (bốc lên mà đốt), còn lòng Đạo dễ chìm (rất nhỏ khó thấy). Đây nói cái cơ vừa rắc rối, vừa nhỏ nhẹm làm cho người để ý đến ngõ hầu cẩn thận về phép chấp trung.
3. Lý Diên Bình (Lý Đông tự là Nguyên Trung, theo học cùng La Tùng Ngạn, nghiên cứu lý học rất tinh tường. Chu Tử thờ ông làm thầy. Người thế gọi là Diên Hành tiên sinh) cả ngày để nghiệm thử coi cái khí tượng của hỉ, nộ, ai, lạc, lúc chưa phát về trước, ra sau, để kiếm chỗ “trung” nơi đó. Ông làm như vậy lâu rồi, mới biết gốc lớn của thiên hạ quả là ở tại đó. Cho nên nói: học vấn chẳng phải chỉ ngồi lẳng lặng, lóng sạch lòng, để nghiệm, thử thiên lý. Nếu thấy được thiên lý rồi thì nhân dục phải tiêu thối cả.
Lý Thành An nói rằng: chỗ trung này chẳng phải là ngôi giữa chừng hai bên trong ngoài. Chẳng phải là ngôi giữa của bốn phương, cũng chẳng phải ngôi giữa của trung tâm. Ấy là chỗ ý niệm chưa phát. Cho nên nói rằng: Thánh nhân do nơi đó mà tẩy tâm thối tàng ư mật.
4. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Chỗ ý niệm chưa phát gọi là trung. Thành An nói ra lời này, có thể gọi là một tay đã vẽ rồng mà còn điểm nhãn luôn.Diên Bình Tiên sinh cả ngày Nguy tọa, để nghiệm thử coi cái khí tượng của hỉ, nộ, ái, lạc, lúc chưa phát về trước, chinh là doãn chấp khuyết trung. Nhờ lâu ngày dày công, chân dục biến ra thiên lý, yên tinh trọn hóa. Như Lai công phu toàn do nơi: tẩy tâm thối tàng”.

56. HỌC THÁNH

1.Người xưa có nói rằng: “Ngã phi thánh nhân, học nhi năng chi”, nghĩa là ta chẳng phải thánh nhân, nhờ học mà được vậy.
– Có kẻ hỏi: Chu Mậu Thúc nói có thể học làm thánh, phải thiệt vậy chăng?
– Trả lời: Phải.
– Có chi làm cốt yếu không?
– Có, lấy chữ nhất làm cốt. Nhất là nghĩa không lòng dục. Không lòng dục ắt tịnh hư, động trực (tịnh thì trong tâm trống không, động thì nói, làm ngay thẳng).
Tịnh hư thì sáng láng, sáng láng ắt suốt thông, động trực ắt chung cùng, chung cùng thì bủa khắp.
Sáng láng, suốt thông, chung cùng, bủa khắp, thì đã gần bâc thánh rồi.
Học Đạo tức là học thánh nhân.
Đạo là vật ta sẵn có, chẳng phải ở đâu ngoại lai.
Thánh chẳng phải đức tuyệt vời, hễ học thì đạt tới nơi.
Cái tính của ta với thánh nhân đồng như nhau. Ai thực hiện được tính mình, tức là thánh nhân vậy.
Người học khoa cử sẽ đậu khoa cử, thiên hạ đều biết hết. Người học thánh nhân thì sẽ tới bâc thánh nhân, sao chẳng rõ kìa?
2. Phu Tử của ta tin chắc rằng mình có thể làm thánh nhân, cho nên học mãi mà không nhàm. Ngài cũng thấy người đời đều có thể làm thánh nhân, cho nên dạy hoài mà chẳng mỏi. Ngài chu du các nước là muốn lấy Đạo của thánh nhân mà dạy trong thiên hạ. Ngài chỉnh đốn xáo kinh là muốn lấy Đạo của thánh nhân mà truyền đến đời sau.
Chỗ nhà Nho gọi là Thánh, tức là Thích gọi là Phật, Đạo gọi là Tiên. Phật là gì? Phật là giác (sáng suốt, xét thấu mọi lẽ). Tiên là gì? Tiên là núi (bất động). Đó là nghĩa xưa nay của hai chữ này.
Ta đem chữ Phật, chữ Tiên mà nói rõ thêm một chút nữa.
Chữ Phật một bên chữ nhân (người), một bên chữ phất (chẳng). Phật có cái nghĩa chẳng làm theo nhân dục. Người làm được những việc người ta chẳng làm, thì có thể thành Phật.
Chữ Tiên một bên chữ nhân, một bên chữ sơn (núi). Sơn có cái nghĩa thường định, thường tịnh. Người hay tịnh được như núi thì có thể thành Tiên.
Bỏ dục liền là Phật
Tỉnh mê mới thành Tiên,
Làm sao mà chứng Thánh?
Duy một chẳng hai ba.
Xem qua thì Nho, Thích, Đạo đều nhờ không lòng dục mà thành. Kẻ nào học thánh mà lòng còn tham lam, thì một trăm người không được thành lấy một.
– Có kẻ hỏi: Muốn học thánh nhân, mà như khó trừ tập khí thì mới làm sao?
– Trả lời: Tại chẳng muốn trừ nên nói khó.
Nếu thật muốn trừ, một khắc đã thấy xong. Sao vậy? Vì hết thảy tập khí đều hư vong, tâm mê thì có nó, tâm ngộ thì không ngay. Chẳng phải ngộ rồi mới không có, vốn trước kia nó không có rồi.
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Đạo là vật ta sẵn có, chẳng phải ở đâu mà lại.
Thánh chẳng phải đức tuyệt vời, hễ học thì đạt tới nơi.
Bốn câu này đủ khai chỗ đường ảo của thánh nhân, thêm tinh thần cho kẻ học.
Mạnh Tử sinh sau Khổng Tử một trăm năm mà dốc lòng học theo Khổng Tử, cho nên tới ngày nay, người đều xưng luôn Khổng Mạnh”.

57. KHẢM LY

1. – Có kẻ hỏi: Dịch có tám quẻ, mà kẻ cầu Đạo thường nói quẻ khảm, quẻ ly thôi, là tại sao vậy?
– Trả lời: quẻ Càn thuộc dương, quẻ Khôn thuộc âm, Càn ở phương nam, Khôn ở phương bắc, hai ngôi đối chiếu với nhau. Đây là cái thể của tiên thiên, Càn dương thì động làm cho hào giữa ở quẻ Càn sa vào giữa quẻ Khôn, làm cho quẻ Càn thành ra quẻ Ly, quẻ Khôn thành ra quẻ Khảm.
Nam bắc là hai cái then chốt của trời đất. Ấy là theo bát quái tiên thiên, chỗ càn khôn ở trước khi. Nay càn khôn lui về địa vị vô dụng rồi lại đem ly khảm mà thế vào chỗ ấy, thì cái công dụng của hậu thiên mới phát hành. Chân khí ở cung khảm biến làm diên, tức là “Thiên nhất sở sinh chi thủy” (nước của trời sinh ra lần thứ nhất): Chân tinh ở cung Ly, biến làm Hống, tức là “địa vị sở sanh chi hỏa” (lửa của đất sanh ra lần thứ nhì). Bởi cớ Nam (nam chỉ quẻ Khảm, nữ đây chỉ quẻ Ly. Sách Đạo gia thường dùng hai chữ nam nữ mà chỉ khảm, ly, âm, dương chớ lấy nghĩa trai gái mà lầm) đặng cái tinh này, mà dùng tinh hay biến đổi, cho nên đi thuận thì thành người. Nữ đặng cái khí kia, nhưng dùng khí được vững bền, cho nên đi nghịch thì thành tiên.
2. Lấy chân diên là tiên thiên chưa bị khuấy đục (chưa nhiễm trần) chế chân hống là hậu thiên, chứa đã lâu rồi, thì hai loại mến nhau như vợ chồng, như mẹ con, chẳng rời nhau. Đó là tự nhiên không duyên cớ sao mà ra làm vậy.
Ly là mạt nhật, mạt nhật chủ về dương tính, mà hào giữa quẻ ly thuộc âm, ấy là âm ngụ nơi nhà dương. Ở trong mình người, thiếu âm số tám, nam tử đặng số đó, cho nên hai tám (mười sáu tuổi) thì chân tinh thông (lậu tinh), thiếu dương số bẩy (mười bốn tuổi) thì thiên quí chí (có kỳ).
Có phải dương nhờ đặng số âm, âm đặng số dương, mà được thấy nghĩa hộ tàng (cái này ngụ trong cái kia, cái kia ngụ trong cái này), đó chăng?
Cho nên người muốn cầu Đạo thì phải cái hào dương trong quẻ khảm tái nhập cho được trong giữa quẻ ly, thì mới phục lại thể càn mà hoàn y Đại Đạo. Vả lại dương ở trong âm, lấy động làm chủ cho nên lúc rút quẻ khảm phải soi chừng nó động. Còn âm ở trong dương, lấy tịnh làm chủ, cho nên khi đắc quẻ ly rồi, phải tịnh để dưỡng nó.
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Dùng tinh hay biến đổi, người đời đều biết, dùng khí được vững bền, người đều không rõ. Lấy chân diên tiên thiên chưa bị khuấy động mà chế chân hống hậu thiên chứa đã lâu rồi. Hai câu này tiết lộ cái bí chí của trọn bộ ngộ chân thiên, kẻ đắc quyết (được thầy truyền bí quyết rồi) tự mình hiểu lấy. Lúc rút quẻ khảm… tịnh để dưỡng nó; lại là một câu khẩu quyết còn trọng yếu hơn”.

58. KHAI QUAN

1. Trong cơ thể con người có mạch Nhâm mạch Đốc. Khi còn ở trong bào thai, hai mạch này thường chuyển vận không bao giờ gián đoạn nên thần khí hỗn hợp, thông với tiên thiên. Đến khi xé bọc ra, cắt rốn rồi thì mạch này chia làm hai, mạch Nhâm chủ về phần âm, khởi tại huyệt Thừa Tương (môi dưới) và kết thúc tại huyệt Hội Âm (gần phía trước hậu môn), mạch Đốc chủ về phần dương, khởi tại huyệt Trường Cường (gần phía sau hậu môn) và kết thúc tại huyệt Nhân Trung (môi trên) thì âm dương hết giao trước sau gián đoạn. Nê Hoàn chẳng cùng Đan Điền giao thông, khí Đan Điền chẳng cùng Vĩ Lư thấu suốt, quan khiếu chẳng thông, hóa cơ không chủ. Do cái bẩm ích nhiều mà thành ra thụ mạng ngắn dài. Cho nên ngày chết đã định rồi từ khi con người mới sinh ra.
2. Xưa có người hiểu lý này trước hết, được chứng quả trường sinh là nhờ có phép chu thiên thăng giáng, hà xa chuyển vận khiến cho hai mạch liền nhau, tuần hoàn chẳng dứt, tam quan khai thông, chu lưu chẳng nghỉ.
Theo phép này, trước giờ tý giờ ngọ ngồi xếp bằng ngay thẳng, bốn cửa để ở ngoài, hai mắt xem vào trong (nhắm mắt), trong trẻo như nước đứng, vắng lặng như nhà không, sẽ đến không lo qua rồi chẳng tưởng, tâm chẳng sinh diệt, khó không ra vào. Hãy điều hòa hơi thở cho lâu, chú tưởng tại Đan Điền, giữ đừng cho khí tấn thì mới nghe trong Đan Điền có khí phát động. Tức là đem hơi thở từ lổ mũi xuống đến bụng dưới, lấy ý mà phụ hơi thở một chút cho thông Vĩ Lư. Vĩ Lư thông thì phải nín nơi Cốc Đạo (hậu môn) lưỡi chống ổ gà, dùng ý dẫn từ từ lên tới Nê Hoàn. Đem khí lên tới Nê Hoàn gọi là hoàn tinh bổ não. Sau một chập khí ấy hóa ra cam lồ, do thước kiều (ngõ thông ra lỗ mũi) mà đi xuống thì bỏ lưỡi xuống, tự nhiên Hội Yết khai thông dùng ý nhẹ nhẹ đưa về Nguyên Hải (Khí Hải huyệt), đó là một hiệp. Đủ 360 hiệp như vậy gọi là một chu thiên. Làm như vậy cho lâu, tự nhiên khí cơ lưu chuyển, cốt tiết soi thông, tam quan lần mở, hai mạch tìm lại con đường của Tào Khê, có cảm sẽ thông, vào cửa Chứng Diện (Huyền Khiếu), nguyên tinh hết chạy ra nữa. Trên đây là một tiết công phu, có thể làm cho con người sống lâu. Tới việc bảo nguyên khí hư (giữ gìn huyền khiếu, hợp với cái hư không), thoát thai thần hóa (thần ra khỏi thể, biến hóa vô cùng), lại có một tầng công phu vi diệu khác nữa, nhưng kỳ thực cũng từ bước đầu này mà bước lên.
3. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Giữ điều hơi thở có ngày phục chú cái khí hậu thiên; chứa khí khai quan, tự nhiên trở lại con đường tiên thiên, tức là chỗ gọi: tìm được con đường trước đi lại”.

59. TỰU CHÁNH

1. Đức Khổng Thánh nói rằng: “Quân tử thực vô cầu bão, cư vô cầu an, mẫn vi sự, nhi thận ư ngôn; tụ hữu Đạo nhi chánh dự”, nghĩa là người quân tử (chuyên tâm dốc chí) ăn không cần no, ở không cần yên, nhanh nhẹn về việc làm, dặt dè trong lời nói (nhưng còn chưa dám cho mình làm phải) lại hay gần gũi với người có Đạo để chất chính những điều trái phải.
Ngài chuyên tâm gắng sức có thể nói là học đúng theo tông chỉ. Vậy mà còn phải gần gũi với người có Đạo để minh biện chính tà. Chẳng phải ngài có ý quá khiêm, kỳ thực là muốn học thêm mà thôi. Ngài thực thấy rõ Đạo lý trong thiên hạ là vô cùng, còn học vấn của một người thì hữu hạn.
Cho nên Đại Thuấn là bậc thánh nhân, còn ham học hỏi và ưa xét những lời thiển cận, quên mình mà theo người, vui xem gương người để là lành.
Nhan Tử là bậc đại hiền, mình có tài năng mà hỏi người tài năng, mình nhiều học thức mà hỏi kẻ không học thức, có như không có, đầy tựa trống trơn.
2. Từ xưa đến nay Thánh không tự xưng mình là thánh, cho nên nhờ đó mà làm Thánh, Hiền không tự xưng mình hiền cho nên nhờ đó là Hiền. Người nay chẳng phải vậy. Họ tự khoe mình đã gặp thầy, mà chẳng xét coi thầy đó chân hay giả, tự khoe mình đã cầu Đạo, mà chẳng xét coi Đạo đó cạn hay sâu. Họ lầm theo bàng môn, luyện đui tu mù, rốt cuộc không nên trò gì cả. Họ nhìn giả làm chân, chấp mê không tỉnh ngộ. Có kẻ thương họ lầm lạc, lấy Đạo chính mà chỉ dạy, họ cũng không tin nữa!
3. Kinh Dịch nói rằng: “Nhất âm nhất dương chi Đạo”, nghĩa là một âm một dương gọi là Đạo. Kẻ nhân thấy Đạo gọi Đạo là nhân, kẻ trí thấy Đạo gọi Đạo là trí.
Đời nay những nhà luận Đạo đều là người thấy nhân thấy trí, cầu luôn về gốc ngọn gồm cả hết dưới trên, giữ trọn tính mạng song tu, Đạo đã minh, đức đã lập, tất nhiên phải nhờ người dốc lòng ham học, thường có lòng tự chinh, mới là nối Đạo cùng họ.
Kẻ sĩ có Đạo mới có thể làm nên thân mình, giúp người tròn phận mới có thể xét rộng, rồi tùy thời mà thi thố. Tỷ như cái chuông lớn, đánh mạnh thì nó kêu lớn, đánh nhẹ thì nó kêu nhỏ, chẳng đánh thì không kêu. Chẳng đánh mà kêu thì người ta cho là cái chuông kỳ quái, còn đánh mà không kêu thì cho là không thể.
Người có Đạo tùy người mà giúp, chẳng phải để mất người, nghĩa là: gặp người nên giúp mà bỏ qua, lại cũng chẳng phải để mất lời nói, nghĩa là: nói Đạo với người không biết gì.
Có kẻ hỏi: – Như ở đời này, có kẻ sĩ mộ Đạo mà khó gặp người có Đạo truyền lại. Mình xem kinh sách mà tự chính, chỉ giữ đừng phạm câu kinh sách dạy, thì lời dạy ta chẳng phải nhiều sao?
4. Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Muốn gần người có Đạo để chất chinh trái phải, nếu ta chẳng có Đạo thì làm sao biết được người có Đạo? Huống hồ Đạo có lớn có nhỏ chẳng đồng, có tà có chính khác xa.
Mình đạt chính rồi mới biết chỗ chính của người, mình không tà rồi mới biết chỗ tà của người. Nếu chẳng phân biệt trắng đen gặp người thì cầu giáo, làm như thế mà không theo bàng môn ngoại Đạo thật là có ích lắm”.

LỜI KẾT

Cuốn sách này là một cuốn sách tổng hợp các quan điểm của Đông phương cổ. Nó chứa đựng tinh hoa quí báu cổ truyền, đồng thời là sự kết hợp tài tình ba quan điểm khác biệt của tam giáo đông phương, Phật giáo nhân từ, Nho giáo nghiêm túc và Đạo giáo khoáng đạt. Nó đem lại cho chúng ta nhiều kiến giải đơn giản dễ hiểu, giúp cho chúng ta hiểu hơn về Đạo và cả các quan niệm Đông phương cổ.
Từ xưa rất xưa con người đã bắt đầu trên con đường đi tìm Đạo, cũng là đi tìm chính mình. Nhưng cho đến ngày nay dù khoa học kỹ thuật phát triển, nhưng khoa học về con người dường như vẫn còn có nhiều điều chưa sáng tỏ. Bởi vậy những cuốn sách như Dưỡng Chân Tập này rất cần thiết cho mọi người.
Mong rằng cuốn sách này sẽ giúp cho mọi người nhiều điều tốt đẹp. Xin chúc mọi sự thành công.

Người dịch và bình chú
N.Q.T. HOÀNG VŨ THĂNG

2 Comments

Gửi phản hồi