Hôm nay, 13 Tháng 11 2018 10:26

Múi giờ UTC + 7 Giờ




Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 4 bài viết ] 
Người gửi Nội dung
 Tiêu đề bài viết: Trông người lại ngẫm đến ta !!!
Gửi bàiĐã gửi: 09 Tháng 2 2012 15:46 
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 26 Tháng 8 2009 23:03
Bài viết: 1857
Đến từ: Hà nội
ĐẠO ĐỨC XUỐNG CẤP, NGƯỜI HÀN QUỐC TÌM VỀ NHO GIÁO

Từ học viện Nho giáo lâu đời nhất của Hàn Quốc nhìn ra, Park Seok-hong thấy đất nước "đang biến thành vương quốc đầy súc vật". Người trẻ chửi người già trong tàu điện ngầm, những đứa trẻ tìm đến cái chết khỏi bị bắt nạt ở trường học.

"Chúng ta đã xây dựng được nền kinh tế mạnh mẽ, nhưng đạo đức của dân tộc đang trên bờ vực của sự sụp đổ. Chúng ta phải khôi phục lại nó và đây là nơi chúng ta có thể tìm thấy câu trả lời", ông nói về học viện Nho giáo.

Ông Park là người phục dựng Sosu Seowon, một khu phức hợp gồm 11 giảng đường Nho giáo và khu ký túc xá. Khu phức hợp này nằm ở một thị trấn phía đông nam, cách Seoul 160 km và được mở cửa vào năm 1543.
Tập tin đính kèm:
Chú thích tập tin: Trẻ em Hàn Quốc chăm chú nghe giảng về các tư tưởng và nghi lễ Nho giáo tại Sosu Seowon.
nho-giao1.jpg
nho-giao1.jpg [ 91.77 KiB | Đã xem 8073 lần. ]

Ở Hàn Quốc, từ "Nho giáo" từ lâu đã bị coi là đồng nghĩa với "lỗi thời". Những người như ông Park gần đây cũng chỉ đạt được kết quả khiêm tốn khi thực hiện chiến dịch đánh thức mối quan tâm đối với việc truyền bá Nho giáo, một hình thức giáo dục nhấn mạnh đến sự hòa hợp, kính trọng người cao tuổi và lòng trung thành với tổ quốc - những nguyên tắc mà nhiều người già ở Hàn Quốc tin rằng đã phai nhạt trong giới trẻ.

Trong 5 năm qua, số lượng học sinh đến đây để tham gia một khóa học về Nho giáo ngày càng tăng, khoảng 15.000 học sinh mỗi năm. Ngoài ra, theo ông Park Sung-jin - giám đốc điều hành của Hiệp hội Seowon quốc gia của Hàn Quốc, có khoảng 150 seowon hay các học viện Nho giáo ở những nơi khác cũng đã mở cửa trở lại cho các chương trình ngoại khóa tương tự.
"Cháu tham gia khóa học ở đây để ông cháu bớt la mắng cháu", Kang Ku-hyun, một học sinh lớp 6 ở Seoul giải thích.

Hôm trước, mẹ em vội vã đưa Ku-hyun và cô em gái lên xe buýt. Sau ba tiếng đồng hồ chạy trên đường, chiếc xe buýt đã mang 40 học sinh tiểu học đến nơi để bắt đầu một "kỳ nghỉ seowon". Trong ba ngày, các học sinh được sống như những Nho sinh thời xưa. Các em cũng nhận được những lời chỉ dẫn đã lâu không còn xuất hiện trong chương trình trường học chính thống. Nghi lễ gồm nhiều thứ, từ việc ăn tối, uống trà đến việc làm thế nào để thưa chuyện với cha mẹ cho lễ phép.

"Đầu gối cháu đau lắm vì cháu phải quỳ nhiều", Kang Chae-won, 10 tuổi, em gái của Ku-hyun, nói sau khi tập cách cúi chào thật thấp trên sàn nhà. "Nhưng chẳng sao cả. Cháu đã học được cách chào thích hợp. Ông của cháu chắc chắn sẽ rất hài lòng".

Khóa học seowon ra đời từ một xu hướng khá phổ biến trong xã hội Hàn Quốc, rộ lên từ khoảng một thập kỷ trước trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Lúc đó, khó khăn về mặt kinh tế cùng với nạn thất nghiệp tràn lan khiến cho tỷ lệ người tự tử cũng tăng cao. Rất nhiều người nhận thấy rõ những giá trị lâu đời của người Hàn Quốc đã mất dần đi cùng với những khó khăn trong đời sống sau cuộc chiến tranh liên Triều 1950-1953.

Mới mấy tháng gần đây thôi, cả Hàn Quốc cũng bàng hoàng khi có gần chục học sinh đã tìm đến cái chết vì bị bắt nạt trong trường học. Hàng loạt vụ binh lính tự tử cũng gây sốc cho cả quốc gia. Để xử lý vấn đề khó khăn này, các ngôi chùa Phật giáo đã bắt đầu cho phép những người muốn tập thiền và học cách lấy lại cân bằng trong cuộc sống được ngụ lại trong chùa. Quân đội thì mở các khóa học kỹ năng vượt qua khó khăn, hay cách tự vệ cũng như nâng cao tinh thần đồng đội bằng cách tập luyện cùng nhau.

Dù đưa ra những cảnh báo cấp thiết về đạo đức, nhưng ông Park không cho rằng hệ thống trường học hiện nay nên được thay thế bằng các học viện Nho giáo. Tuy nhiên, ông tin rằng người ta có thể học được nhiều thứ từ các seowon.

Hàng thế kỷ trước, những bé trai đã được lựa chọn rất khắt khe từ khắp nơi trên đất nước Hàn Quốc và đến sống tách biệt trong khuôn viên được bao quanh với những cây thông, suối và ao. Các cậu bé đọc các cuốn sách của Nho giáo và bình phẩm thơ về thiên nhiên. Họ bắt đầu và kết thúc mỗi ngày bằng việc đi thăm viếng ngôi đền thờ các nhà triết học Nho giáo tôn kính. Họ cúi chào hai lần thấp đến mức đầu chạm xuống sàn trước giáo viên, trước khi trả lời về việc đọc sách trong ngày.

Vào thời hoàng kim ấy, hơn 700 học viện trải đều khắp Hàn Quốc đã đào tạo các ứng viên phục vụ vương triều và những nhà Nho chuyên phụ trách việc duy trì tư tưởng Nho giáo cho tầng lớp thống trị dưới triều đại Yi (1392-1897).
Có một điều trớ trêu là trong những thập kỷ qua, nhiều người Hàn Quốc đã đấu tranh để giải phóng bản thân khỏi những quan điểm hà khắc của truyền thống Nho giáo. Họ đổ lỗi cho nền văn hóa phân chia thứ bậc trong xã hội cũng như các định kiến trọng nam khinh nữ tồn tại hàng thế kỷ nay đã dẫn đến nạn nạo phá thai nếu giới tính thai nhi là nữ.

Trên thực tế, các bậc cha mẹ Hàn Quốc vốn nổi tiếng là chăm lo đến việc giáo dục con cái. Sự chăm lo này vừa được đánh giá là một trong những nguồn lực cho sự phát triển kinh tế nhanh chóng, vừa bị lên án là tạo áp lực lớn lên trẻ. Tất cả những điều này đều có nguồn gốc từ seowon. Các học viện Nho giáo lâu đời này coi trọng việc ghi nhớ các bài viết cổ, nhằm chuẩn bị cho các kỳ thi vào chốn quan trường. Họ cũng thường đánh đồng bằng cấp với địa vị xã hội.
Tập tin đính kèm:
Chú thích tập tin: Trong khóa học Seowon, các học sinh được sống như những Nho sinh thời xưa và học nhiều nghi lễ, từ ăn tối, uống trà đến việc làm thế nào để thưa chuyện với cha mẹ cho lễ phép.
nho-giao2.jpg
nho-giao2.jpg [ 154.61 KiB | Đã xem 8073 lần. ]

Seowon trước đây chỉ dành cho các bé trai thuộc “yangban” - tầng lớp cao nhất trong xã hội. Hoàng tộc đã hỗ trợ nhiều em trong số đó bằng cách chi trả học phí cho các quý tộc nhỏ tuổi trong nhiều năm. Đến năm 1865, một lượng lớn seown bị đóng cửa, chỉ còn lại 47 học viện. Lý do các seowon bị đóng cửa là vì trước đó các học viện này đã biến tướng thành nơi dung dưỡng nạn tham nhũng và chia rẽ quyền lực, làm suy yếu cả triều đại trước khi Nhật chiếm Hàn Quốc vào năm 1910.

Sau khi ách cai trị của thực dân Nhật chấm dứt năm 1945, Hàn Quốc thông qua một hệ thống giáo dục phổ cập với một chương trình chịu nhiều ảnh hưởng của giáo dục phương Tây. Các học viện Nho giáo vẫn duy trì như các đền thờ, nơi mà những người Hàn Quốc có tư tưởng truyền thống tổ chức các nghi lễ tôn vinh các nhà hiền triết Nho học.

Những người đề cao tầm quan trọng của các học viện này lập luận rằng Hàn Quốc đương đại có thể học được nhiều điều từ xã hội cũ.
"Khi các học viện này còn hoạt động theo đúng phương châm, họ đề cao việc xây dựng nhân cách hài hòa với thiên nhiên", Lee Bae-yong, một nhà sử học và cũng là cựu chủ tịch của trường đại học Ewha Womans ở Seoul nói.
Bà Lee, hiện là chủ tịch Hội đồng tổng thống về xây dựng thương hiệu quốc gia, từng có kinh nghiệm quảng bá hình ảnh Hàn Quốc với quốc tế, đang lãnh đạo một chiến dịch của chính phủ nhằm đưa học viện nho giáo vào danh mục di sản thế giới của UNESCO. Vào tháng một, UNESCO đã công nhận 9 cơ sở, bao gồm cả Sosu, vào danh mục đề cử.

Các học giả Nho giáo trước đây mặc áo choàng màu trắng và đội mũ cao màu đen đã không còn bóng dáng ở học viện Sosu. Thay vào đó, các du khách có thể thấy những giảng đường được trang trí những câu răn Nho giáo. Rất nhiều khóa đào tạo Nho giáo nội trú ngắn hạn được tổ chức ở gần một ngôi làng cổ, nơi các quang cảnh sinh hoạt đời sống trước đây như đan chiếu cói, cưỡi xe bò, đọc sách Khổng Tử được tái hiện để phục vụ khách du lịch tham quan.

Ông Park, người phụ trách việc phục dựng, có thể nói chuyện hàng giờ về những điều ông cho là sai lầm của hệ thống "giáo dục rác rưởi" của ngày hôm nay. Đó là việc quá nhấn mạnh vào học tiếng Anh và toán đã chiếm chỗ của các môn học như đạo đức và lịch sử. Tuy nhiên ông thừa nhận rằng việc giảng dạy về Nho giáo ở Hàn Quốc ngày nay cũng cần có những giới hạn nhất định.

Trong hai thập kỷ qua, ông đã nắm bắt mọi cơ hội để thúc đẩy Nho học đối với mọi người, từ các quan chức chính phủ tới những khách tham quan.
"Họ nhìn tôi giống như tôi là một kẻ điên, một người bảo thủ và cổ hủ. Tôi thấy mình thật lạc lõng", ông nói. "Nhưng họ cũng đồng ý với một phần mười những gì tôi nói". (1)

Cao Thu (theo NYT) http://vnexpress.net/gl/the-gioi/cuoc-song-do-day/2012/02/dao-duc-xuong-cap-nguoi-han-tim-ve-nho-giao/

(1) Sếngsáng nì thiệt là quá hạnh phúc và mãn nguyện. Chỉ được có 10% dưng là tỷ lệ thực chất và hữu hiệu. Còn hơn chán vạn nơi khác cái gì cũng được hô hào dưng kết lại là chả có cà-ram nào được thực thi cả.

_________________
"...Say say tỉnh tỉnh thành say thật
Tỉnh tỉnh say say rõ tỉnh vờ..."


Sửa lần cuối bởi Xứ Đoài nhà cháu ! vào ngày 14 Tháng 9 2012 10:55 với 1 lần sửa.

Ngoại tuyến
   
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Trông người lại ngẫm đến ta !!!
Gửi bàiĐã gửi: 29 Tháng 2 2012 10:51 
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 26 Tháng 8 2009 23:03
Bài viết: 1857
Đến từ: Hà nội
HIỆN TƯỢNG "NHỮNG BẬC CHA MẸ QUÁI GỞ"

Sự quá bảo hộ và quá can thiệp trong quá trình phát triển của trẻ dẫn đến những hệ quả vô cùng nghiêm trọng ở bình diện tâm lý của các em và xã hội, thậm chí còn làm nảy sinh hiện tượng "những bậc phụ huynh quái gở".

Nó đã trở thành mối quan ngại sâu sắc đối với những nhà giáo dục, những nhà tâm lý học nhi đồng cũng như trong vấn đề xã hội học, luật pháp đối với vị thành niên…. Cụ thể là những hiện tượng khá phổ cập trong nhiều gia đình :


Hiện tượng "quá bảo hộ"

Thuật ngữ này được Nhật Bản sử dụng đầu tiên vào năm 1970, được hiểu là: "Quá nuông chiều, tránh né những gì em bé tỏ ra không thích khi đối mặt và sẵn sàng thỏa mãn quá mức cần thiết đối với những gì các em tỏ ra thích thú".

"Nó tạo ra nhiều ảo tưởng cho các em kèm theo những dục vọng không hề kềm của của người lớn, dẫn đến những trường hợp tạo cho các em những hành vi không tốt, thậm chí bất lương, thực tế đã cho thấy nhiều trường hợp dẫn đến kết quả hoàn toàn ngược lại với lương tâm của các bậc làm cha mẹ”.

Chẳng hạn, một hình ảnh thường thấy trong các gia đình Việt Nam: khi em bé chập chững bước đi những bước đầu đời, vấp phải một cái gì đó té ngã, thì người mẹ vội chạy lại ôm bé và cố dỗ dành cho bé khỏi khóc: “Tại hòn đá làm con mẹ đau này! Mẹ đánh cái hòn đá này cho xem !...”.

Như thế vô tình gieo vào trí óc thơ dại của bé rằng: việc em vấp ngã trong những bước đầu tiên này, không phải do khả năng non nớt từ chính bản thân em, mà chỉ tại những cái đáng trách từ ngoại cảnh. Lần sau, khi bé té ngã, bé sẽ cố khóc thật to chờ mẹ đến cứu và lập lại những động tác trên để bênh vực bé.

Ngược lại, người viết cũng đã nhiều lần quan sát ở những cặp vợ chồng dẫn con đi phố chơi: bé vấp ngã, hai vợ chồng nọ vẫn thản nhiên đi tiếp, tự bé loay hoay một lúc rồi tự đứng lên, không hề khóc.

Thái độ “không can thiệp” thoạt xem có vẻ “thờ ơ” này được các nhà tâm lý học nhi đồng đánh giá cao: đó là thái độ tôn trọng của cha mẹ đối với các bé trong cuộc hành trình của bé tìm hiểu thế giới quanh mình, các bé là chủ thể của hành vi chính mình và tự chịu trách nhiệm về nó. Tự mình té thì tự mình đứng lên, đó là bài học giản đơn của thiên nhiên.

Từ bài học đơn giản này, các bé sẽ tự mình nghiệm ra cái nội lực có sẵn trong bản thân mình, tính tự lập, tự chịu trách nhiệm và phát huy nó trong những bước sau này trong cuộc đời.

Mặt khác, hiện tượng “quá bảo hộ” còn xảy ra ở những cấp độ sâu hơn và xa hơn, nhiều bậc cha mẹ không nhận thức được những tiến trình tâm - sinh lý khác nhau của các bé qua các giai đoạn từ ấu nhi đến tuổi teen và tuổi dậy thì.

Thậm chí khi con mình đã thành người trưởng thành, các bà mẹ vẫn khư khư giữ lấy quan niệm “Dù con có lớn như thế nào nào đi nữa, con vẫn cứ là con của mẹ !” và vẫn cứ tiếp tục cư xử với con mình như vốn từng ngày xưa bú mớm nâng niu.

Đây không chỉ là một hiện tượng mà gần như là một hiện trạng gắn liền với bản năng của người mẹ, tình yêu thương của người mẹ thường không chấp nhận sự tách lìa khỏi con mình từ giai đoạn “lìa vú mẹ” như hai cá thể biệt lập, mặc dù điều này là cực kỳ cần thiết để con mình có thể trưởng thành như một cá thể độc lập và có khả năng đối phó với những nghịch cảnh của cuộc đời.

Trong nhiều trường hợp thực tiễn cho thấy, sự “quá bảo hộ” này dẫn đến sự cản trở tiến trình phát triển tâm lý của các em và phá hỏng việc hình thành nhân cách của các em, cái nhân cách mà các em đáng lẽ ra phải có như cha mẹ từng mong đợi.

Hơn thế nữa, quá bảo hộ cũng trực tiếp tạo cho các em một cái vỏ bản ngã kiên cố, quy mọi giá trị quan về bản thân mình như là một trung tâm của vũ trụ, khiến các em tự cho mình là một cái gì đặc biệt khác người.

Giữa bản thân các em (với những định kiến gia đình vây quanh) và cuộc sống xã hội bị chướng ngại bởi một cái hàng rào tâm lý, khiến các em khó khăn trong việc hình thành một tương giao thực sự với xã hội.

Các em không có cơ hội xác định vị trí và tính cách của minh qua tấm gương giao tiếp với xã hội: các em dễ lẫn lộn lòng tự hào hãnh diện, lòng tự trọng với sự kiêu ngạo, tự mãn, tính vị kỷ…

Các em cũng không có cơ hội tự đánh giá bản thân mình, chính mình là ai và mình thực sự mong muốn điều gì trong cuộc sống (vốn có tính cách xã hội), các em chỉ sống trong một cái ảo tưởng về bản thân và không chấp nhận tất cả những gì khác với ảo tưởng đó.

Các em cũng đánh mất cơ hội chịu trách nhiệm và tu sửa bản thân, vì khuynh hướng trội vượt trong bản ngã các em luôn luôn quy trách vào người khác hơn là tự nhìn lại bản thân mình. Đây mới chính là điều đáng quan ngại nhất cho các nhà giáo dục, xã hội học…

Một hiện tượng khác rất gần với hiện tượng quá bảo hộ, thường được đồng hóa với hiện tượng này, trên thực tế cũng gây nên những bức xúc và đáng quan ngại không kém.

Hiện tượng "quá can thiệp"

Thuật ngữ “quá can thiệp”, như ngữ nghĩa của nó, là sự can thiệp quá mức cần thiết về mặt tinh thần gây ra sự quá tải và mệt mỏi cho một đối tượng nào đó, thường được dùng trong những vấn đề giữa cha mẹ và con trẻ với tư cách như là những “người bảo hộ và người được bảo hộ (trẻ em vị thành niên)”.

Ở Nhật Bản, một nước Á đông với những truyền thống rất gần với Việt Nam, nhiều vấn đề giáo dục và luật pháp đã được đặt ra đối với quan hệ giữa “Cha mẹ-người bảo hộ” và “Con cái - người được bảo hộ”, trong đó vấn đề “quá can thiệp” được đặt ra khi: “Cha mẹ - người bảo hộ không thừa nhận con cái-người được bảo hộ như là một chủ thể nhân vị, có khả năng tư duy, có quyền đưa ra những ý tưởng, cũng như có quyền phát triển bản ngã, nhân cách riêng cùng với tính tự chủ và tự lập, trường hợp này các em chỉ được xem như là những búp bê, chỉ được quyền làm theo ý muốn và sự kiểm soát của cha mẹ”.

Mặt khác, vấn đề quá can thiệp cũng được đặt ra khi cha mẹ, với tư cách là người bảo hộ, quá nuông chiều những sở thích không hạn định của con trẻ, sẵn sàng cung ứng và thỏa mãn quá mức cần thiết những ham muốn vượt khả năng và giới hạn của con trẻ, tạo ra những gánh nặng quá tải, để các em rơi vào tình trạng không còn có thể tự mình chịu trách nhiệm chính những điều các em muốn.

Trong thực tế cuộc sống, không ai thương con cái bằng cha mẹ, chính tình thương vô hạn này thường đặt các bậc cha mẹ vào vị thế chịu mọi trách nhiệm về mọi hành vi con mình như là một “giám thị”, mong mỏi tạo dựng con cái theo hình ảnh và kinh nghiệm chính bản thân mình.

Theo đó bậc làm cha mẹ thường tạo ra những cấm đoán, những luật tắc, những phán xét riêng, nhiều khi xâm phạm cả quyền riêng tư của các em, để dẫn dắt con cái đi theo con đường mình mong muốn, được xem như là “lẽ đương nhiên”.

Tuy nhiên, khi sự bảo hộ và sự can thiệp trở thành quá bảo hộ và quá can thiệp, nó sẽ dẫn đến hệ quả ngược lại với tình yêu thương và kỳ vọng, khiến nhiều người phải đặt ra vấn đề “quyền làm người” của con trẻ.

Đó là những trường hợp mà bậc cha mẹ tự đặt cho mình quyền “giám hộ vĩnh viễn”, đi quá xa trong quan niệm và hành xử như thể con cái như là “vật sở hữu” của mình, dồn nhét vào các em những cách suy nghĩ, giá trị quan của mình, thậm chí dạy cho các em những mánh khóe người lớn và sử dụng các em như là phương tiện để thỏa mãn những mục đích và thực thi bản ngã của người lớn.

Không quá đáng khi nói các em được xem như “vật sở hữu”, vì ở đây dù muốn dù không, chính các vị phụ huynh này đã tước đi của con em mình quyền được phát triển nhân cách của một chủ thể con người, tước đi của các em những cơ hội để tự định hình và định hướng, khẳng định chính mình trong xã hội, tự chịu trách nhiệm trước tha nhân, như là một chủ thể tự mình đứng trên đôi chân của chính minh và suy nghĩ bằng tư duy của mình.

Hoài bão, ước mơ trong thế giới hồn nhiên của các em, hãy để các em tự định đoạt, tự mình ma sát với xã hội, tự mình tìm ra câu trả lời thích hợp, tự chính mình lấy kinh nghiệm sau vấp ngã, và tự mình đứng lên sửa lại mình, chịu trách nhiệm về chính bản thân mình…

Không một bậc cha mẹ nào có thể “dạy” cho các em được những điều này, mà chính các em phải tự thể nghiệm lấy bằng cuộc sống của chính mình. Nhất là ở tuổi dậy thì, lứa tuổi bắt đầu biết phản kháng với những gì không phải là mình.

Các bậc cha mẹ chỉ có thể góp ý bàn bạc riêng với các em trong tình yêu thương, chứ không thể “can thiệp” hoặc “quá can thiệp” một cách thô bạo vào thế giới riêng của các em được nữa.

Thực tế cũng cho thấy sự quá bảo hộ và quá can thiệp trong quá trình phát triển của trẻ, dẫn đến những hệ quả vô cùng nghiêm trọng ở bình diện tâm lý của các em, cũng nhưng những hệ quả nghiêm trọng khác được đặt ra trên bình diện xã hội.

Năm 1979, trong bối cảnh của một xã hội công nghiệp phát triển cao độ, các nhà giáo dục Nhật Bản đặt ra nhiều vấn đề về “Mẫu nguyên bệnh” (những bệnh chứng phát xuất từ người mẹ, trong cùng cách nói kiểu dân gian Việt Nam: “con hư tại mẹ”).

Song song với quá trình công nghiệp hóa này, đơn vị gia đình Nhật càng lúc càng trở nên ít con (nhiều nhất là một), thời gian giữa mẹ và con tiếp xúc nhau được kéo dài hơn, hiện tượng quá bảo hộ và quá can thiệp cũng xảy ra song song do tình cảm ràng buộc của mẹ con.

Điều này dẫn đến những kết quả ngoài mong muốn: Các em phát triển khiếm khuyết ý chí riêng của mình, các em chỉ quen thuận theo ý chí của người mẹ. Khi đã hoàn toàn trưởng thành và đã thực thụ sống cuộc sống cuộc sống riêng của mình, các em không có ý chí tự lập và vươn lên, các em dễ sụp đổ dù chỉ với những thất bại đơn giản và dễ dàng mất định hướng trong cuộc sống xã hội, quá trình hội nhập xã hội của các em là một quá trình khác thường đầy rẫy những khó khăn và thất bại tự tạo…

Ở một mức độ nào đó, sự quá can thiệp và quá bảo hộ của người mẹ đi quá xa dẫn đến một hiện tượng khác:

Hiện tượng "Những bậc cha mẹ quái gở"

Năm 2008, hiện tượng này (tiếng Anh là Monster Parents) được dựng thành phim trong bộ phim truyền hình Nhật Bản cùng tên. Ở Mỹ cũng xuất hiện thuật ngữ “những bậc cha mẹ kiểu máy bay lên thẳng” (Helicopter Parents).

Đây là những thuật ngữ được dùng để nói về những bậc phụ huynh quá bảo hộ và quá can thiệp vào cuộc sống con em mình, họ thường đặt ra quá nhiều yêu sách hoặc kiện tụng tranh chấp hoặc gây áp lực với nhà trường và các thầy cô giáo, hay với những cơ quan chức năng khác.

Hiện tượng này tăng cùng với hiện tượng quá bảo hộ và quá can thiệp trong cuộc sống xã hội đương đại trong những năm gần đây. Các bậc phụ huynh này xem con em họ như là trung tâm vũ trụ, từ đó phàn nàn và gây khó khăn đủ thứ với nhà trường và các cơ quan có liên hệ với con em họ.

Ở Mỹ, thường thì nhà trường hoặc các cơ quan liên hệ đều có luật sư cố vấn riêng, nên thường thì “những bậc cha mẹ kiểu máy bay lên thẳng” này chỉ phí công kiện cáo vô ích thôi, chẳng ai quan tâm.

Như thế, vấn đề quá bảo hộ, quá can thiệp và “những bậc cha mẹ quái gở” đã trở thành một vấn đề xã hội lớn đối với Nhật Bản, một quốc gia tiên tiến với công nghiệp hóa cao độ, cũng là một quốc gia nặng truyền thống Á đông rất gần gũi với truyền thống Việt Nam mà người viết nêu ra đây để chúng ta dễ hình dung. Những hiện tượng này gắn liền với xã hội công nghiệp đương đại cùng với quá trình đô thị tập trung phát triển vô cùng phức tạp của xã hội này.

Việt Nam tuy chưa chưa đến giai đoạn phát triển phức tạp như ở Nhật và Mỹ, nhưng chúng ta cũng không thể bàng quan với vấn đề này, một vấn đề vốn đã tiềm ẩn trong tư duy của các gia đình truyền thống.

Theo nghiên cứu của giáo sư Ono của đại học Osaka, thì hiện tượng này nổi bật lên và gia tăng ở Nhật vào cuối thập niên 90, khi đấy nhiều bậc phụ huynh kiện cáo nhà trường “phạm luật” vào đòi hỏi những yêu sách kỳ quái cho con em họ.

Cũng xuất phát từ đó, từ ngữ “những bậc phụ huynh quái gở” với “monsuta” mượn từ tiếng Anh “monster” (quái vật) được giới truyền thông Nhật sử dụng với hàm ý phủ nhận tư cách bảo hộ của những phụ huynh này.

Theo điều tra tổng kết năm 2006 với 10.000 trường tiểu học và trung học ở Nhật Bản, thì 29,8% các hiệu trưởng trung học trả lời rằng “giáo dục bị trở ngại nghiêm trọng bởi những yêu sách vị kỷ của những phụ huynh kiểu này”, 48,9 % các hiệu trưởng trả lời là “khá nghiêm trọng”.

Như thế kết quả 78,7 % các hiệu trưởng trung học đã đưa ra vấn đề về các “phụ huynh quái gở” đã làm trở ngại giáo dục học đường với mục đích cá nhân của họ. Cũng như thế đối với các trường tiểu học bị trở ngại “nghiêm trọng” là 25,7 %, khá nghiêm trọng là 52,1%, kết quả tương tự như trên là 77,8% đã trở thành vấn đề.


Lê Thị Mận
http://vnexpress.net/gl/ban-doc-viet/2012/02/hien-tuong-nhung-bac-cha-me-quai-go-1/

_________________
"...Say say tỉnh tỉnh thành say thật
Tỉnh tỉnh say say rõ tỉnh vờ..."


Ngoại tuyến
   
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Trông người lại ngẫm đến ta !!!
Gửi bàiĐã gửi: 23 Tháng 10 2012 02:04 
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 26 Tháng 8 2009 23:03
Bài viết: 1857
Đến từ: Hà nội
TRUNG-QUỐC TRONG CON MẮT NHẬT-BẢN, CÁCH NHÌN TẠO RA SỐ PHẬN

Nguyễn Lương Hải Khôi
26/07/2010


Thử nhìn lại lịch sử, tham chiếu Nhật Bản, một nước cũng là láng giềng Trung Quốc như Việt Nam, nền văn minh cũng sinh sau đẻ muộn như Việt Nam, và quy mô quốc gia cũng nhỏ bé như Việt Nam, đã định vị Trung Quốc như thế nào trong một bối cảnh lịch sử tương tự như Việt Nam.

LTS: Thế giới, đặc biệt là các nước ở châu Á, xem sự trỗi dậy của Trung Quốc có tính cách thời đại, đang bàn thảo sôi nổi về tác động này. Định vị Trung Quốc đang trở thành một chủ đề nóng ở nhiều nước trong khu vực.

Bài viết dưới đây đưa ra một góc phân tích về cách nhìn Trung Quốc của Việt Nam và Nhật Bản thời phong kiến. Đây là góc nhìn riêng của tác giả cần được tranh luận, làm sáng tỏ thêm. Mời bạn đọc phản biện bài viết này
.

Nếu như lịch sử hiện đại của các nước Đông Á (Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản) là lịch sử quan hệ với Phương Tây, thì trong các thời kỳ tiền hiện đại, lịch sử của Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản là lịch sử của mối quan hệ với Trung Quốc.

Trong thời đại ngày nay, khi Trung Quốc đang ôm tham vọng giành lại vị trí lịch sử đặc biệt trước đây. Để định vị chính mình, Việt Nam không thể không định vị Trung Quốc. Chúng ta hãy thử nhìn lại lịch sử, tham chiếu Nhật Bản, một nước cũng là láng giềng Trung Quốc như Việt Nam, nền văn minh cũng sinh sau đẻ muộn như Việt Nam, và quy mô quốc gia cũng nhỏ bé như Việt Nam, đã định vị Trung Quốc như thế nào trong một bối cảnh lịch sử tương tự như Việt Nam.

Trung Quốc không phải là "thiên triều"

Nước ta suốt nghìn năm, mỗi khi Trung Quốc xâm lăng thì ngoan cường tuyên bố "Nam quốc sơn hà Nam đế cư", nhưng thắng họ rồi thì lại đều đặn triều cống, các Vua mỗi khi lên ngôi thì luôn xin "thiên triều" phong tước, tự coi mình là nước nằm trong vòng ảnh hưởng của Trung Quốc.
Trong con mắt Nhật Bản, Trung Quốc không may mắn có cái vị trí ấy. Trong suốt lịch sử trung đại, không có bất kỳ một ông Nhật hoàng nào cử sứ giả sang Trung Quốc xin tước phong. Ngay trong bức thư đầu tiên gửi Tùy Dạng Đế để thiết lập quan hệ ngoại giao, thái tử Shotoku đã mở đầu: "Thư này là thư của thiên tử xứ mặt trời mọc gửi thiên tử xứ mặt trời lặn".
Trung Quốc dĩ nhiên là tức giận, nhưng phải chấp nhận. Rồi dần dần thành quen, và... chấp nhận vĩnh viễn.

Với chúng ta, chỉ khi nào bán nước như Lê Chiêu Thống thì mới bị nguyền rủa, còn "nộp cống xưng thần" là chuyện nhỏ, ngay cả với Lê Thái Tổ hay Quang Trung. Ở Nhật Bản, Ashikaga Yoshimitsu (cuối thế kỷ 14), là vị Shogun (tức "tướng quân", dưới quyền Nhật hoàng) duy nhất trong lịch sử Nhật nhận tước phong của Trung Quốc. Và chỉ có thế, cái tên của ông này đã bị lịch sử Nhật Bản muôn đời nguyền rủa như một vết nhơ khó rửa của dân tộc.
Như vậy, ngay cả khi không hề có chiến tranh, họ vẫn thiết định một tư thế bình đẳng trong ngoại giao.

Đừng nghĩ rằng vì Việt Nam quá gần Trung Quốc mà đành nhân nhượng. Chỉ cần xem quá trình Vương An Thạch phải mất nhiều năm chuẩn bị cho cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt năm 1076 là rõ. Thời đó, chuẩn bị một cuộc chiến tấn công Việt Nam không hề dễ dàng.
Việt Nam lựa chọn như vậy về mặt chính trị, vì một nguyên nhân văn hóa: chúng ta chấp nhận văn hóa Trung Quốc là một "khuôn mẫu đỉnh cao", do đó, dù kháng chiến ngoan cường để giữ độc lập trong thực tế, nhưng về mặt chính trị, lại chấp nhận mình thuộc vùng ảnh hưởng của nó. Vậy, tiếp theo, ta thử xem Nhật Bản trước đây nhìn văn hóa Trung Quốc như thế nào.

Trung Quốc không phải là khuôn mẫu

Nhật Bản dĩ nhiên thừa nhận Trung Quốc là một nền văn minh rực rỡ và học tập nó hết mình, nhưng khác Việt Nam, Nhật Bản không cho phép Trung Quốc trở thành khuôn mẫu. Có thể thấy sự lựa chọn này ở tất cả những lĩnh vực chủ yếu của nền văn hóa.
Cắm rễ trên nền tảng văn minh nông nghiệp lúa nước Đông Nam Á, Việt Nam dĩ nhiên có một bản sắc khác biệt với Trung Quốc, ngay từ cội rễ. Nhưng ta thử nhìn vào phần văn hóa bác học, phần được tầng lớp tinh hoa dân tộc du nhập về và "đặt chình ình" vào giữa cơ thể dân tộc.
Là một nước đi sau, Việt Nam muốn bắt kịp Trung Quốc. Nhưng ít nhất là từ thế kỷ XV trở đi, chúng ta có một cách nhìn lạ lùng: không thua Trung Quốc nghĩa là... không khác Trung Quốc.
Bị dẫn dắt bởi cách nhìn này, những sáng tạo của chúng ta thật đáng tự hào, nhưng chỉ có điều, ở khá nhiều lĩnh vực chủ yếu, chưa bao giờ vượt ra ngoài "chiếc hộp Trung Quốc". Tổ chức khoa cử như Trung Quốc. Sắp xếp bộ máy nhà nước như Trung Quốc. Dùng hoạn quan như Trung Quốc. Viết chữ Hán như người Trung Quốc viết... Xây dựng Văn Miếu, biểu tượng của nền văn hiến nước nhà, chúng ta không dám làm bất kỳ chi tiết nào khác với Khổng miếu ở Trung Quốc.

Văn miếu (Việt Nam) xây dựng từ thế kỷ 11. Khang Hy ở thế kỷ 17 đến thăm Khổng miếu (Trung Quốc), viết 8 chữ "Vạn thế sư biểu. Khang Hy ngự thư". Chúng ta cũng lật đật làm một tấm bảng y như vậy để treo ở nhà mình, đến nỗi Hồ Cẩm Đào ở thế kỷ 21 này đến thăm Văn miếu (Việt Nam), nhìn 8 chữ ấy, từng bối rối vì ngỡ đang... ở nhà. Ngay cả trong những sáng tạo nhằm mục đích phân biệt mình với Trung Quốc, chúng ta cũng sáng tạo trong khuôn khổ của Trung Quốc: sáng tạo chữ Nôm, nhưng theo đúng những nguyên tắc của chữ Hán, bắt buộc những ai muốn học chữ Nôm thì phải học chữ Hán trước. Nhật Bản thì không cho phép Trung Quốc có vinh dự là một lò gạch để đúc nên những cục gạch giống nhau. Họ không tổ chức khoa cử như Trung Quốc. Không xây dựng hệ thống nhà nước như Trung Quốc. Không dùng hoạn quan như Trung Quốc. Dùng chữ Hán, nhưng ngay trong cuốn sử đầu tiên, "Cổ sự ký", họ phá vỡ mối quan hệ giữa âm và nghĩa của chữ Hán để viết một thứ chữ Hán mà người Trung Quốc... không đọc được. Suốt hơn một nghìn năm độc lập phong kiến và tự chủ khi học hỏi Trung Quốc, Việt Nam có nhiều sáng tạo độc đáo, rất riêng, nhưng không có những đóng góp khiến Trung Quốc ngày nay nhìn lại mà hổ thẹn.

Chúng ta không thể làm điều đó, vì ngay từ xuất phát điểm là cách nhìn và cái nhìn, "chữ thánh hiền" là chữ Trung Quốc, "người thánh hiền" là người Trung Quốc, nhìn chung, mọi hình mẫu đều nằm ở Trung Quốc.

Vậy chúng ta thử nhìn xem ông bạn Nhật kia học Trung Quốc bằng thái độ văn hóa nào.

Trả ơn thầy bằng cách giỏi hơn thầy

Các bậc đại Nho của chúng ta coi mọi điều hay lẽ phải đã được "thánh hiền Trung Quốc" nói hết cả, mình không cần phải lập thuyết làm gì, chỉ cần sống sao cho đúng.
Ở Nhật Bản xưa, các nhà Nho được tôn vinh là bậc đại Nho là những người dám làm một việc mà đối với các nhà Nho Việt Nam là không thể chấp nhận được: phủ định triệt để thánh hiền Trung Quốc, để xây dựng một cách nhìn và cái nhìn một mới về nhân sinh.

Trong văn hóa Việt Nam, có bậc đại Nho nào của chúng ta khi biện luận mà dám đặt vấn đề một cách "vô lễ" như thế này với thánh hiền Trung Quốc? Sách "Sentetsu Sodan" ("Tiên triết tùng đàm") của Nhật kể về Yamazaki Ansai, bậc đại Nho của Nhật Bản thế kỷ 17, như sau: Một hôm Yamazaki Ansai hỏi các môn đệ: "Nếu bây giờ Trung Quốc cử Khổng tử làm chánh tướng, Mạnh tử là phó tướng, dẫn vài vạn binh thuyền tấn công nước ta. Là học trò của Khổng Mạnh, các trò sẽ làm gì?". Nghe câu hỏi là biết câu trả lời rồi. Các học trò của Khổng Mạnh sẽ phải... chém đầu Khổng Mạnh để báo ơn vua, như chính Khổng Mạnh đã dạy.
Việt Nam thì chỉ có thể chém đầu Ô Mã Nhi, Liễu Thăng, chứ chém đầu cụ Khổng cụ Mạnh thì không dám. Chúng ta không cảm thấy cần phải "đặt vấn đề" về mặt văn hóa với Trung Quốc.
Thế kỷ 17, Nhật Bản có một bậc đại Nho là Ito Jinsai phê phán triệt để Tống Nho: để hiểu Đạo của người, không thể bằng cách nhìn đạo của Trời thông qua Lý, như Tống Nho quan niệm, mà cần nhìn thẳng vào chính cuộc sống đời thường và trần tục này. Họ có những kẻ điên.
Tominaga Nakamoto, đầu thế kỷ 18, còn đi xa hơn nữa, lớn tiếng tuyên bố rằng, đạo Nho là của Trung Quốc, đạo Phật là của Ấn Độ, Thần đạo thì của Nhật Bản nhưng của thời xưa.
Cần một triết thuyết mới cho cuộc sống thực hôm nay. Nakamoto tuyên bố vậy, nhưng chẳng làm được gì cả. Chí nguyện là một chuyện, còn có sáng tạo được cái "triết thuyết mới" ấy hay không là chuyện khác.

Tuy nhiên, điên như Nakamoto là dở cho riêng ông nhưng tốt cho đất nước ông. Khoảng nửa thế kỷ sau, thái độ thách thức cái vị trí đỉnh cao văn hóa của Trung Quốc đã đi đến đích: ngay từ trước duy tân Minh Trị gần một thế kỷ, cậu học trò Nhật Bản có những cống hiến thực sự trong thực tế để dạy lại ông thầy của mình.

Các học phái "Kokugaku", "Rangaku", "Mito"... đã phủ nhận tận gốc vị trí lãnh đạo của văn hóa Trung Quốc, bằng cách chỉ ra những lý luận phi tự nhiên của Nho giáo Trung Quốc, sự cực đoan của học thuyết "thiên mệnh", những sai lầm trong những kiến thức y học Trung Quốc về giải phẫu người...

Học tập Trung Quốc là chịu ơn Trung Quốc. Chịu ơn thầy thì phải trả ơn thầy. Cách trả ơn duy nhất đúng là cống hiến cho ông ấy những hiểu biết mới của riêng mình.

Lời cuối cho một khởi đầu

Sang đến thế kỷ XIX, ở Việt Nam, đáp lại tiếng khóc canh tân thảm thiết của Nguyễn Trường Tộ là cái im lặng đáng sợ của một hoang mạc tinh thần, vì ngay cả khi Việt Nam đã bị Pháp nghiền nát, những ông quan hay chữ trong triều đình Huế vẫn chưa thôi sùng bái Trung Quốc như là "khuôn mẫu đỉnh cao".

Ở Nhật Bản, vì dám thách thức thầy mình về mặt trí tuệ, nên sang đầu thế kỷ XIX, trí thức Nhật không bất ngờ khi thấy Trung Quốc đại bại trước Anh quốc trong chiến tranh nha phiến. Và nhờ thế, họ được chuẩn bị sẵn về mặt tinh thần để đáp lại tiếng gọi canh tân của Fukuzawa Yukichi bằng một nhịp bước quân hành khiến cả bầu trời rung chuyển.
Cách nhìn tạo ra cái nhìn. Cái nhìn tạo ra sự lựa chọn. Sự lựa chọn tạo ra số phận. Số phận thay đổi khi cách nhìn thay đổi.

Người Nhật ngày trước nhìn văn hóa Trung Quốc như thế nào thì sau đó họ cũng nhìn văn minh Phương Tây theo cách ấy. "Học tập Phương Tây, Đuổi kịp Phương Tây. Vượt qua Phương Tây" - đó là tinh thần Nhật Bản suốt từ thời kỳ Duy tân đến nay. Tinh thần này trùm lên mọi lĩnh vực, kể cả văn chương nghệ thuật.

Dĩ nhiên, khi nghe khẩu hiệu này của Nhật Bản, ta sẽ cảm thấy họ lộng ngôn. Bởi "Phương Tây" là cả một thế giới khổng lồ và đa dạng. Nhật Bản không thể so sánh được về mặt quy mô. Nhưng, lộng ngôn thì cũng như... Nakamoto ở thế kỷ 18 là cùng.

Mỗi dân tộc khi tham gia vào dòng chảy toàn cầu hóa đều không thể không định vị quốc gia mình trên bản đồ thế giới. Mỗi người Việt định vị bản thân mình trước cuộc đời như thế nào thì Dân tộc Việt định vị chính nó trước thế giới như thế ấy.

Sức mạnh của một dân tộc thể hiện rõ nhất không phải khi nó đứng ở vị thế của kẻ mạnh, mà khi nó sinh ra, mới ngước mắt nhìn mặt trời đã nhận thấy mình là kẻ yếu.
Một dân tộc yếu khi còn chưa thôi thách thức những đỉnh cao, nó vẫn còn đang sống, đang hành trình. Một dân tộc đã chấp nhận một đỉnh cao nào đó là khuôn mẫu vĩnh viễn, nó là một chiến binh "gục bên súng mũ bỏ quên đời".

_________________
"...Say say tỉnh tỉnh thành say thật
Tỉnh tỉnh say say rõ tỉnh vờ..."


Ngoại tuyến
   
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Trông người lại ngẫm đến ta !!!
Gửi bàiĐã gửi: 13 Tháng 5 2015 10:43 
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 26 Tháng 8 2009 23:03
Bài viết: 1857
Đến từ: Hà nội
Vì sao người Việt ít nói ‘anh yêu em’
http://vnexpress.net/tin-tuc/cong-dong/ ... 09137.html

_________________
"...Say say tỉnh tỉnh thành say thật
Tỉnh tỉnh say say rõ tỉnh vờ..."


Ngoại tuyến
   
 
Hiển thị bài viết cách đây:  Sắp xếp theo  
Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 4 bài viết ] 

Múi giờ UTC + 7 Giờ


 Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào trực tuyến.0 khách.


Bạn không thể tạo chủ đề mới.
Bạn không thể trả lời bài viết.
Bạn không thể sửa những bài viết của mình.
Bạn không thể xóa những bài viết của mình.
Bạn không thể gửi tập tin đính kèm.

Tìm với từ khóa:
Chuyển đến:  
 
cron