Hôm nay, 14 Tháng 11 2019 05:38

Múi giờ UTC + 7 Giờ




Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 19 bài viết ]  Chuyển đến trang Trang vừa xem  1, 2
Người gửi Nội dung
 Tiêu đề bài viết: Re: Người Việt tự ngắm mình
Gửi bàiĐã gửi: 27 Tháng 9 2009 23:14 
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 27 Tháng 8 2009 17:33
Bài viết: 60
10. Phép vua thua lệ làng

Chúng ta đã bàn về cái xấu của người Việt, qua ngồi xổm, đi đất, mặc quần áo ngủ ra đường, đó là những cái xấu về hiện tượng bên ngoài. Và cũng bàn sâu vào những thói xấu bên trong như: “văn hay chữ tốt không bằng ngu dốt lắm tiền”, hay “dở ông dở thằng”. Nhưng đến đây chúng ta đang bàn đến cái xấu cao hơn của nội dung tinh thần đó là tính công lý, tính cộng đồng.

Người Việt nói: “Phép vua thua lệ làng”. “Phép vua” là biểu hiện cho tinh thần pháp luật của quốc gia, bao gồm các trạng nguyên - những người có học cao nhất, rồi các quan lại trong triều là những người được tuyển chọn từ các trạng nguyên, cùng vua lập ra, vậy mà thua cả “lệ làng” được chăng hay chớ, do con người cũng như điều kiện thổ nhưỡng và hoàn cảnh xã hội ở làng tạo nên. Vì thói “luật pháp làng” án ngữ bắt rễ thâm căn cố đế từ trong lịch sử, nên từ cổ chí kim, cho đến hiện đại nhãn tiền, các điều luật từ trung ương đến địa phương đều bị hóa giải ngay cổng tre của mỗi xóm làng. Làng chính là một giá trị độc tôn “cao nhất”, đã xé lẻ sức mạnh quốc gia của người Việt. Lâu nay người ta cứ cho rằng “ta về ta tắm ao ta/ dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”, hoặc là làm thân con gái chẳng ao ước lấy được đàn ông tài gỏi kinh bay tế thế nào hơn, lấy được chồng làng.

Lấy chồng khó giữa làng
Hơn lấy chồng sang thiên hạ

Phép nước là biểu hiện cho tinh thần công lý. Với kiểu đặt cả phép nước xuống dưới lệ làng, chứng tỏ trình độ sống của người Việt còn hết sức manh mún, nhỏ bé, chủ yếu còn loay hoay “vinh thân phì gia”, sau đó lan từ nhà ra ngõ, và đến hàng rào của làng thì “đào hào đắp lũng” cố thủ.

Các chuyên gia chính trị xã hội phương Tây đưa ra quan điểm rằng: Các dân tộc châu Á, ngay cả Trung Quốc là nước đông dân nhất, là các quốc gia phân tán, co cụm, phòng vệ, và yếu ớt. Bằng chứng là tất cả các thành phố lớn, thủ đô của các nước này như Bắc Kinh, Niu Đê-li (New Deli), Hà Nội... đều nằm trong đất liền để lo phòng thủ. Trái lại, thủ đô, và các thành phố lớn ở phương Tây thường nằm sát bến cảng để lo thông thương, buôn bán, ngoại giao, và cả viễn chinh nữa. Chẳng hạn vào thế kỷ XVIII, nước Bồ Đào Nha nào có mấy mống người (có lẽ dưới một triệu), vậy mà họ cũng đua cùng Anh, Pháp, Tây Ban Nha đi tìm và xây dựng thuộc địa Braxin ở tận châu Mỹ xa xôi.

Không đợi các chuyên gia phương Tây, ở chương I, chúng ta đã nghe, chính lãnh tụ Tôn Trung Sơn nói rằng: “Người Trung Quốc chỉ có gia tộc và tông tộc. Và yếu ớt như một bãi cát rời rạc”.

Người Việt chúng ta thì cũng đã thú nhận sức mạnh của mình qua câu nói tận thâm sơn cùng cốc tâm hồn và truyền thống, cũng như phong tục: “Phép vua thua lệ làng”. Đơn vị làng cũng là đơn vị sống tình cảm, ở đó phản ánh trình độ sống còn thiếu lý trí của người Việt.

Công - Lý, suy từ cổ chí kim thì là:

- Lý: là lý trí
- Công: là cộng đồng.

Một cái làng không bao giờ có thể có một vóc dáng của một “quốc gia lập hiến”. Nhiều cái làng hợp lại, cũng không thành quốc gia lập hiến. Theo các triết gia thì: Lý trí của con người hiển nhiên đã mang tính công lý. Vì ở chợ, khi người khuân vác khiêng một cân thịt, một cân rau, một cân củi, thì anh ta đều tính tiền công trọng tải như nhau - đó là công lý. Hay người khách hỏi người bán nước là “nước sôi chưa” thì có nghĩa nước đã đun ở 100oC chưa, ai cũng hiểu vậy - và đó là công lý. Và cả kẻ bán lẫn người mua đều cũng phải tính 2 + 2 = 4, hay 3 lần 7 là 21 - cũng là công lý. Như vậy khi một cộng đồng có lý trí, thì hiển nhiên cộng đồng đó sẽ tiến đến công lý. Công lý sẽ làm mạnh cả hiến pháp và pháp luật, cũng như mọi quy tắc và lề luật ứng xử cộng đồng. Trái lại, khi một cộng đồng lý trí yếu, thì hiển nhiên sẽ lui về co cụm trong tình cảm, lấy việc thân với người này, sống chết với người kia, làm thành phe cánh, mong chống chọi hay lấn lướt với đời.

Trong nhiều tác phẩm, dã sử, chính sử, đặc biệt qua hàng loạt phim lịch sử nhiều tập của Trung Quốc, đã cho chúng ta thấy: từ việc “kết nghĩa vườn đào” đến nhiều việc kết nghĩa anh em khác như trong “Thuỷ hử” để sống giữa một cuộc đời đầy gian manh bất trắc, xưng hùng xưng bá, giơ móng nhe nanh rình rập, người ta thường kết nghĩa lại với nhau để tạo ra uy lực cũng như lực lượng đảm bảo cho mình. Đặc biệt là cuộc kết nghĩa anh em của “Trình Giảo Kim”, chỉ là cách quần tụ lại, ỷ đông, ỷ mạnh, ức hiếp, cướp đoạt người đời. Nhưng dù những tên cướp có cấu kết cùng nhau thì sức mạnh của chúng cũng rất nhỏ, nay còn mai đã bị tiêu diệt, vì lẽ sức mạnh “ỷ đông” của chúng không có công Lý làm chỗ dựa. Tình cảm không có công lý đảm bảo, thì dù có thề non hẹn biển, cắt máu ăn thề thế nào đi nữa cũng rất yếu đuối. Hãy xem như tướng Hoàng Trung, hay Khương Duy nổi tiếng nghĩa khí trong “Tam Quốc”, vậy mà chỉ một ngày được dụ hàng đã theo đối phương. Vì sao vậy? Vì họ không theo chủ này thì theo chủ khác. Chủ nào tốt thì họ có quyền theo. Nhưng đó mới là sự theo đuổi - phục vụ trong quan hệ chủ và tớ, chứ chưa phải là một tinh thần đòi phục vụ một lý tưởng. Khi tinh thần đòi phục vụ một lý tưởng nào đó, thì thật khó mà lung lạc chiêu hàng. Lý tưởng đó chỉ có thể thuộc về lẽ sống của Lý Trí.

Giống vậy, cách “kết nghĩa” của người Việt từ bằng hữu, đến đồng nghiệp, đến xóm làng, nếu không vươn đến lý trí, sau đó đến công lý, thì cũng là những kết nối tình cảm yếu ớt, rệu rã, sẵn sàng đổ nát. Bởi lẽ, trong khi quần tụ trong tình cảm, người này lại muốn “ăn trên ngồi chốc” người kia, rồi đố kỵ, rồi ghen tị, rồi hãnh tiến đòi hơn... tất cả những thứ đó sẽ làm mục ruỗng sự cấu kết hờ của tình cảm. Người Trung Hoa có câu: “Cùng một nỗi lo người ta trở thành đồng minh của nhau, nhưng cùng một bổng lộc người ta sẽ trở thành kẻ thù cắn xé lẫn nhau”. Điều này nhân gian đã bày tỏ qua cụm từ “chó tranh xương”. Những con chó đang quần tụ đùa nghịch cùng nhau, vui vẻ lắm, nhưng nếu có một cục xương ném vào, chúng sẽ cắn xé lẫn nhau. Hình ảnh đó cũng có nghĩa rằng, nếu con người cấu kết nhau thành tình cảm để vụ lợi, thì chính sự vụ lợi đó có lúc cũng xé rách thứ tình cảm trong cuộc tranh giành - ganh tỵ - cấu xé lẫn nhau.

Vậy đến đây, chúng ta sẽ bàn đến một nhược điểm trung tâm của người Việt:

- Vì thiếu Lý trí, nên thiếu sự quy tụ đến đời sống công lý trong cộng đồng. Vì thế mới nảy sinh “phép vua thua lệ làng”.

- Vì thiếu công lý làm sức mạnh lẽ phải trong quan hệ cộng đồng, nên người ta phải tìm cách cấu kết thành cánh hẩu, rồi các hội này, hội kia.

Vậy chúng ta hãy bàn tiếp đến khúc quanh quan trọng này.


11. Người khôn ăn nói nửa chừng, làm cho kẻ dại nửa mừng nửa lo

Ở phần 9, chúng ta có bàn về sự “khôn vặt” của người Việt, đến đây, thì thấy rõ ràng sự khôn ngoan đó nổi lên tất cả qua câu ca dao:

Người khôn ăn nói nửa chừng

Làm cho kẻ dại nửa mừng nửa lo.

Người khôn theo nghĩa lớn là để giúp đời, theo nghĩa nhỏ thì chí ít phải có ý tưởng minh bạch về bất kể việc gì đó. Nhưng cách khôn của người Việt không vậy! Mục đích của cái khôn không phải thể trình ra quan niệm hay trí tuệ, mà là: để sống ưu thế hơn. Vì thế người ta còn nói “Khôn ăn người, dại người ăn”.

Cái khôn kiểu đó không phải để tiến đến trí thức, cũng chẳng có phong độ của ông chủ, mà là cách làm nô bộc lươn lẹo sao cho vừa lòng chủ. Có rất nhiều người Việt tâm đắc với lối khôn lọc lõi của tể tướng lưng gù Trung Quốc rằng:

- Nói cùng không hay!

- Im lặng cũng chẳng tốt!

- Mà là làm sao nói ra những gì để chủ vui lòng.

Rồi các kiểu luồn chôn để sống bằng mọi giá của Hàn Tín đã trở thành bản mẫu trong lẽ sống của nhiều người. Than ôi, làm người có mỗi cái danh dự để sống mà dám đổi nó lấy mọi sự sợ hãi - luồn cúi đến vong thân thì còn sống để làm gì. Sống vậy có khác gì động vật hai chân còn mỗi ngả tồn tại qua ăn và ngủ.

Tại sao phải ăn nói nửa chừng? Vì trước hết, người Việt học hành theo lối “học gạo” kiếm chỗ ấm thân, nên cái học rất nửa vời, để vừa có mặt lại vừa không có mặt, khi cần xuất ăn giải thưởng thì “ta đăng ký”, khi cần “ba mươi sáu chước tẩu nhi vi sách” cũng tiện, vì ta nói, nhưng đã nói gì đâu ai mà bắt được lỗi.

Ngôn ngữ là biểu hiện của trí tuệ. Theo các triết gia và chuyên gia ngôn ngữ, thì biểu hiện cao nhất của trí tuệ ra ngoài là ngôn ngữ, vì trí tuệ nằm sâu trong não, nó chỉ có sân khấu lớn nhất - cao nhất - trực tiếp nhất - nhanh nhất là ngôn ngữ. Như vậy câu nói trên của người Việt, đủ thấy người Việt dùng ngôn ngữ để sống nhiều hơn là để tư duy. Cái học đằng đẵng trong lịch sử là muốn làm quan, muốn sống hơn người theo kiểu “Mồm miệng đỡ chân tay”, nhiều hơn là để giành cho con người phát triển tư tưởng. Trong lịch sử, ngay cả các luồng tư tưởng, các tôn giáo vào Việt Nam là để áp dụng sống nhiều hơn là để phục vụ nhu cầu phát triển phẩm chất sống của tâm hồn. Như việc áp dụng “Tam giáo đồng nguyên”.

Tam giáo đồng nguyên bao gồm:

1. Nho giáo, cũng là khổng giáo, có thể coi Đức Khổng Tử là tôn chủ. Học thuyết của ngài lo giáo hoá xã hội theo nề nếp chính trị của quân vương. Bản thân ngài thì lo dong duổi xe từ nước này qua nước khác xin được làm quan lớn.

2. Đạo giáo, cũng gọi là Đạo Lão, do Lão Tử chủ trương, lấy “vô vi” làm lẽ sống.

3. Đạo Phật, từ ấn Độ nhập đến, do Đức Phật Thích Ca khởi xướng, có một nội dung là “sắc sắc - không không”, tức mọi sự ở đời có khi chấp là có lại hoá ra không, có khi chấp là không lại hoá ra có.

Theo nhiều ý kiến nghiên cứu về tôn giáo và xã hội, thì người Việt cùng lúc áp dụng cả ba thứ đạo. Nhưng trước hết, vì trình độ lý trí có hạn, nên người Việt đã nhầm cả ba lý thuyết trên vào Đạo. Thực ra, chỉ có Đạo Phật mới là Đạo, vì ở đó Đức Phật có ý đưa cuộc sống thoát trần hướng về cõi Niết Bàn. Còn Nho giáo với chủ trương “Hiếu, Đễ, Trung, Thứ, Tu, Tề, Trị, Bình” (Hiếu với mẹ cha, Đễ với huynh đệ, Trung với Vua, khoan Thứ với mọi người, Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ) là lý thuyết của đời sống trần tục không thể gọi là Đạo... Lão giáo của Lão Tử, với “Vô vi”, cũng chỉ là thái độ hành động ở đời, cũng không thể là Đạo. Nhưng sao người Việt cố tình nhầm cả Nho giáo, Lão giáo và o Đạo? Vì:

- Thứ nhất: Do hạn chế của tri thức.

- Thứ hai: Cố tình nhầm lẫn để thủ lợi cho cuộc sống.

Việc nhầm lẫn, xào sáo cả 3 lý thuyết trên bất kể đời hay đạo, để thu lợi cho cuộc sống là một xu hướng rất tràn lan trong tư duy thiếu minh định của người Việt. Mở màn, lúc trẻ, người ta ào ào cuốn theo Nho giáo, hăm hở theo những bánh xe lăn, tìm đến các cơ quan công quyền, phấn đấu leo lên các vị thế “trị đời - trên đời”. nhưng nếu không được, người ta liền lui về cố thủ trong thuyết “vô vi” của Lão Tử, cho rằng: “Trời không làm gì mà cái gì cũng làm”, vì vậy, ta không làm gì cũng là làm nhiều hơn tất cả (?). Về già khi thất cơ lỡ vận, thì lại hoà tan mình trong mặc cảm “sắc sắc không không”. Xứ ta có rất nhiều người luôn có câu nói trưng diện ở cửa miệng rằng: “Đời vô nghĩa cả thôi, chết là hết ấy mà”. Kỳ thực thì, số người này cái gì cũng muốn, đến nỗi người đời gọi họ là “Thích đủ thứ”. Họ tìm cách vơ vào tất cả mọi bổng lộc của cuộc sống nhưng lại nói ra vẻ “vô nghĩa cả thôi”. Và khi họ nói “chết là hết!” Không phải theo nghĩa than tiếc, mà là rất ích kỷ theo kiểu: mọi cái hãy giành cho tôi lúc sống, còn khi chết thì hết cũng được. Đây là mẫu người ích kỷ mà người phương Tây nói rằng: “Ta hãy sống đã. Còn sau khi ta chết là nạn hồng thuỷ cũng mặc”.

Chắc chắn, như phần “tấm gương soi”, chúng ta đã bàn, trí óc phải minh định mạch lạc, sau đó phát sinh ý tưởng thì mới có thể tiến bước vào con đường trí tuệ. Nhưng trái lại người Việt không cần sống thứ trí tuệ đó, chỉ dùng trí tuệ vào lối sống tranh sáng - tranh tối, để cầu an hưởng lạc. Để dễ hiểu, chúng ta hãy nhìn những minh chứng. Trong rất nhiều phim Trung Quốc, chúng ta thấy, các cận thần phải dùng bao nhiêu trí tuệ vào việc đánh cờ với vua “làm sao để thua” một cách tự nhiên nhất. Nếu thắng thì chết đã hẳn. Nếu thua mà thua lộ liễu sẽ mắc tội khi quân khinh nhờn vua, cũng chết. Nên làm sao phải tìm cách thua kín đáo, thua như thật, đánh vã mồ hôi trán mà thần chẳng thể nào thắng nổi bệ hạ.

Trong những lĩnh vực cần đến trí tuệ, thì người Việt thường bày tỏ cách “tháng ba cũng ừ, tháng tư cũng gật”. Không thế này, cũng chẳng thế kia. Trong âm có dương, trong dương có âm. Âm hết cũng chẳng tốt. Dương hết cũng không hay. Làm sao phải kết hợp toàn vẹn âm - dương. Sau khi đưa ra ý kiến nửa nạc - nửa mỡ, “nôm na mách qué”, người Việt thường rơi vào lối tranh cãi cù nhầy. Rồi còn nói “mọi so sánh chỉ là tương đối” như là sự xoá bỏ mọi ranh giới, mọi so sánh, và mọi cách quan niệm. Rút cục người ta thường cùng nhau quy về “tình cảm”. Thôi thì, sư cũng phải mà vãi cũng hay. Cuộc tranh luận kết thúc, người ta đã làm xong cái việc đem lấy “Tâm lý” đổi “Chân lý”

Tại sao lúc nào người ta cũng muốn một khoa học, một nghệ thuật, hay một giải pháp toàn thể? Để mà không thể sai! Để luôn luôn mình có mặt ở đó mà chẳng phải phiêu lưu gì cả, nên không sợ “chẳng phải đầu cũng phải tai”. Vài lần khi nói chuyện với mấy người lúc nào cũng dùng dằng ở giữa bùng binh của các mối dây quan niệm nửa nạc - nửa mỡ, tôi nói: Dù chiếc máy bay có hiện đại thế nào cũng không thể cùng lúc bay cả lên phía Bắc, cả xuống phía Nam. Nhưng hoàn toàn nó có thể bay lần lượt từ Nam chí Bắc. Nước cũng vậy, khi đun sôi có thể pha trà, khi làm lạnh có thể thành đá. Nhưng không thể cùng một lúc nó vừa pha trà vừa thành đá. Nhưng hoàn toàn có thể đun nóng pha trà sau đó đặt vào tủ lạnh, ta sẽ có được nước trà lạnh.

Vì sự lùng nhùng của tư duy trong việc nhập nhằng tranh tối tranh sáng, nên phải nói trong nhiều thế kỷ, tư duy của người Việt rất chậm phát triển. Rất khó có thể giải quyết việc gì đến đầu đến đũa, một cách tiến bộ rõ ràng. Vì các triết gia đã phát hiện: Chỉ có lý trí mới tiến bộ. Còn tình cảm luôn chỉ là thứ quây cụm dìu nhau nổi lên, dìu nhau ngụp xuống. Người Việt nói:

Ông cả ngồi trên sập vàng
Cả ăn cả uống lại càng cả lo
Thằng bếp ngồi trong xó tro
ít ăn, ít mặc, ít lo, ít làm.

Muốn sống địa vị của một ông chủ cuộc đời, thì chúng ta phải dùng trí óc để “cả lo” những vấn đề của cuộc sống, đằng này người Việt thường dùng trí óc để khôn vặt mong lảng tránh vấn đề của cuộc sống, thì làm sao có thể sống trong ngôi vị của một ông chủ? Vì ngôn ngữ ấm ớ, tất trí óc cũng ấm ớ, nên hành động cũng ấm ớ. Vì thế người ta chỉ còn cách bấu víu vào tình cảm. Nhưng tình cảm không có lý trí và công lý làm đảm bảo nên nó đã kéo lùi xã hội bởi hàng loạt các tật xấu “Theo đóm ăn tàn”, “Nhờ gió bẻ măng”, “Đục nước béo cò”, “Giậu đổ bìm leo”, “Đắm đò giật mẹt”, “Bới bèo ra bọ”, “Trâu buộc ghét trâu ăn”...


Ngoại tuyến
   
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Người Việt tự ngắm mình
Gửi bàiĐã gửi: 27 Tháng 9 2009 23:15 
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 27 Tháng 8 2009 17:33
Bài viết: 60
12. Cả vú lấp miệng em - Còi to cho vượt

"Cả vú lấp miệng em” thì dễ hiểu rồi, nhưng người Việt hiện tại cũng rất hóm hỉnh khi tự trào phúng “còi to cho vượt”. Một chiếc xe muốn vượt lên, nó phải có tốc độ lớn hơn chiếc xe phía trước, vả lại, xe tải cồng kềnh, có còi rất to, nhưng tốc độ chậm làm sao mà vượt . Nhưng ứng dụng vào trong cuộc sống thì thấy ai mồm to, dù chẳng có lý lẽ thì được “vượt lên”. Vì thế nhiều người mới đua nhau luyện giọng “mồm miệng đỡ chân tay”. Về điểm này, có nhiều chuyện rất buồn cười, có không ít nhà thơ, nhà văn đi công tác về các tỉnh lẻ, về khoe rằng, ta đã trổ tài nói chuyện thời sự, khiến khán thính giả há mồm thán phục. Thật là buồn cười! Anh là nhà thơ, nhà văn, địa phương mời anh về nói chuyện như là tác giả nói về công việc của mình, sao anh không nói, lại nói chuyện thời sự châu Á, châu Âu? Kỳ thực, những anh nhà thơ, nhà văn này muốn dùng chiêu “cả vú lấp miệng em” và “còi to cho vượt”. Vì lẽ, họ biết rằng, nói chuyện về vài tập thơ mỏng, hay cuốn sách nặng cảm tính của mình thì chẳng có gì để nói - để nghe - và để biểu hiện. Và họ nói chuyện thời sự, để mượn uy ông tổng thống nước này, bà hoàng hậu nước kia... Khi về họ hỉ hả như người chiến thắng, than ôi cái chuyên môn của mình thì chẳng dám khoe trong khi cáo mượn oai hùm, thỏ đội lốt cáo lại ra vẻ tự đắc “ta thế này ta thế kia”.

Ở phần trước đã nói, vì tìm cách ăn nói nửa chừng, tranh tối tranh sáng, nên nhiều cuộc tranh luận của người Việt đều dẫn đến cào bằng, hoà cả làng, ông giáo sư cũng chỉ ngang bằng anh nông dân. Vì thế nảy sinh một tệ nạn muốn chiến thắng người thì không cần lý lẽ, mà cần dùng “còi to cho vượt” để lấn át. Người Trung Hoa có câu “cường từ đoạt lý”. Nghĩa là người ta sẽ dùng cường độ dày, cao độ to để lấy lời nuốt lý. Người có lý thì không cần to tiếng, mà chỉ cần nhỏ nhẹ bình thản trình bày, thì lý vẫn cứ tồn tại. Đằng này biết là mình không có lý, nên người ta dùng ngôn ngữ to và mạnh và dầy, cướp lời để đoạt lý của người khác. Trong làng văn thơ đã có chuyện, ngay trong bữa tiệc, ông nhà thơ kia bí lên liền hất ngay cả chậu nước vào mặt người đối thoại với mình. Không hiểu người ta sẽ viết văn kiểu gì, khi văn hoá bé nhất còn chưa hiểu? Cũng xuất hiện các kiểu “cái chầy”, “cái cối”, “cãi cùn” khác mong chẹn họng người đối thoại. Như có anh nhà thơ kia cứ đụng chạm đến việc tranh luận với người khác, thì ở trong quán ăn anh ta giả vờ nổi cáu lên, hất nước mắm đổ tung toé khiến cho mọi người phải sợ, mà im đi! Thậm chí có cả cách thế này, có anh nhà thơ kia, khi tranh luận mà có cả phụ nữ, anh ta liền văng của quý của mình một cách có chủ đích, để người ta ngượng không dám tranh luận nữa.

Khi người ta chỉ tìm cách dùng lời cưỡng lý, thì chỉ có ẩu đả mà không có giao chiến về lý luận - tức là tranh luận. ở đời nhiều thứ “Giao” rất hợp chức năng, rất tự nhiên và lành mạnh. Thí dụ như “giao thông”, là mọi người đều muốn di chuyển, đi lại, nhưng đến nơi ngã ba và ngã tư đụng đầu dễ gây ách tắc, thì người ta sẽ tìm cách nhường nhịn lối “đen xanh - đèn đỏ”, anh trước, tôi sau di chuyển; hay lối cầu vượt đường phía anh bắc qua đường phía tôi. Hay như trong chuyện ái tình âm - dương của nam - nữ, sẽ có giao để mà hợp. Trong những vấn đề của cuộc sống cũng vậy, nhiều khi những ý tưởng, những ngôn ngữ giao nhau lành mạnh trong tranh luận, để tìm cách vượt qua. Nhưng, như người ta thực hiện đi vào nút giao thông, rồi lại đi ra, mình được đi cũng không cản trở việc đi của người khác, đó là lành mạnh. Trái lại, nếu ta chỉ ẩu đả hỗn loạn, rồi dở võ “cả vú lấp miệng em”, cường lời cưỡng lý, thì không phải “giao chiến” về ngôn ngữ nữa, mà là ẩu đả và bệnh hoạn. Giống như trong ái tình, hai người cùng ưng hai người cùng được thì còn là “giao hợp”; nhưng chỉ có một kẻ muốn, bắt người kia phải theo thì là “cưỡng giao”, không thể nào hợp được. Thái độ tranh luận hay ngôn ngữ đặt con người vào trung tâm của đời sống trí tuệ cũng như văn hoá. Bởi lẽ: ngôn ngữ là trí tuệ. Trong đó ngôn ngữ đối thoại là hình thức cao nhất của ngôn ngữ Người Trung Quốc có câu rằng:

“Quân tử hoà nhi bất đồng
Tiểu nhân đồng nhi bất hoà”.

Nghĩa là: Quân tử thì sống dung hoà với nhau, nhưng vì có trí tuệ nên nảy sinh những bất đồng về ý kiến. Dẫu vậy, vì văn hoá nhân ái họ vẫn giữ được hoà khí để sống dung hoà cùng nhau. Trái lại, tiểu nhân là những kẻ không có chính kiến để mà bất đồng, dẫu vậy lại luôn bất hoà cùng nhau như đố kỵ, ganh ghét, cạnh tranh hơn thua.

Vì thế, khi chúng ta không xây dựng được văn hoá đối thoại, đặc biệt khi chúng ta là người có học, thì chúng ta vẫn sống theo cách của những “tiểu nhân” - đồng nhi bất hoà. Nhưng nói như vậy, vẫn oan cho các tiểu nhân, vì họ không có ý tưởng đành phải “đồng nhi”. Còn chúng ta nếu đã có học, có kiến thức, có ý tưởng mà ra vẻ không có để “đồng nhi” và cố tình bất hoà, thì còn suy đồi và bệnh hoạn hơn cả những tiểu nhân.


13. Ngậm miệng ăn tiền

Trái với cảnh “cả vú lấp miệng em”, là cảnh “ngậm miệng ăn tiền”. Người Việt nói “tránh voi chẳng xấu mặt nào”, thôi thì những “quyền huynh thế phụ” đã ra oai, rồi thì lối phong kiến xưa kia còn đè nặng “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung, phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu”, nên người ta đành ngậm miệng.

Ngậm miệng là một cách nhẫn nhục thì đã xong, vì biết nhẫn nhục là một đức tính quý báu ở đời. Nhưng đằng này, như người Việt chỉ ra lại “ngậm miệng ăn tiền”, nghĩa là ngậm miệng không phải đức nhẫn nhục mà là tìm cách vô liêm sỉ khôn khéo để thủ lợi - vì thế mới “ăn tiền”. Chẳng hạn, như các phim lịch sử của Trung Quốc chỉ ra, khi vua họp các quần thần, có vấn hỏi các quan, quốc gia lâm hữu sự, xin ý kiến của các đại thần. Thì tất cả các quan đều im lặng. Nếu vua hỏi thẳng vào một vị quan nào đó, thì sẽ được nghe: “Bệ hạ sáng suốt, thần không dám! Không dám! Thần đầu óc tối tăm không biết nhận ra điều gì ngoài việc làm theo những gì bệ hạ chỉ dẫn”. Nghĩa là, bằng việc im lặng, người ta phủi tay tất cả, đổ lên đầu vua tất cả. Nói ra, nhỡ đâu “không phải đầu cũng phải tai”, thiệt thân, lại thiệt nhà. Không nói ra là tốt nhất, vì không ai bị khép vào tội im lặng bao giờ. Cuối cùng, nếu may mắn, có vị đại thần nào cho ý kiến, thì các quan lại xúm xít lại dè bỉu chê bai, cản phá ý kiến của người đó là xấu là dở. Có lần nhà vua phải nói: “Tại sao khi trẫm hỏi thì các vị không chịu trả lời, đến khi có một người trả lời thì xúm lại chê bai?”

Vậy đấy, khi người ta im lặng để tồn tại khôn khéo thì cũng muốn mọi người đều im lặng giống mình, không ai được giở võ “chơi chòi” đòi vượt mọi người.

Ngậm miệng nhiều rồi sinh dèm pha, nói xấu, chê bai, thậm chí “gắp lửa bỏ tay người” là một lô - gíc tất yếu. Trong cuộc sống, nhiều người Việt cũng vậy, khi được hỏi thì không nói, không nói được thì nuốt ấm ức, sau đó chọn lúc an toàn thuận lợi thì phun ra những lời cay độc để bôi nhọ người. Thậm chí người ta còn dùng chiêu khẩu thiệt vô bằng“ (nói thiệt cho người không cần bằng cớ) để bôi nhọ người khác. Chẳng hạn, họ có thể thoải mái nói, tôi nghe người ta bảo, “anh điêu lắm”, “cô gàn dở lắm!” “anh vừa hấp vừa tham!” “lão già ấy dê cụ lắm!” “Con mụ ấy kinh khủng lắm”... Đấy là những lời sơ sơ thôi, và khi nói xấu người khác chỉ cần ghép vào cụm từ vô nhân xưng “người ta” là xong.

Trong các cuộc gặp mặt, người Việt hay có cảnh thế này, đang nói chuyện, người này hay người kia giả đò lơ đãng đưa mắt đi chỗ khác, hàm ý nói với người đang đối thoại rằng “này anh đừng tưởng anh nói có lý, nói hay, đâu nhé. Tôi chẳng thèm để tai nghe anh đến một từ. Sau sự im lặng đó, người ta sẽ tìm cách bày tỏ những phản ứng chống đối, như nói mỉa, nói lạc qua chủ đề khác, hay quay sang nghịch thứ nọ thứ kia... Trong cuộc đời, từ cổ chí kim, phải thừa nhận thế này, người ta sẽ chẳng làm nên được cái gì ra hồn hay vĩ đại nếu không biết chủ tâm, chú mục vào việc ta định làm. Trong đó, con người gặp con người, cũng như cách đối thoại giữa người với người luôn là một trung tâm đáng chú ý nhất của đời sống nhân văn, lại thường được người Việt ứng xử một cách trá hàng và thiếu trách nhiệm. Vì thế các giá trị nhân văn của xã hội rất khó có thể vận động khỏi một sân khấu còn loay hoay trang phục cho cá nhân để tiếp diễn tiến lên.

Một nhà văn có nói “một xã hội không nói là một xã hội câm”, hay như nhà văn Trung Quốc Vương Sóc có viết: im lặng trong nhiều trường hợp chỉ là sự tồn tại khôn khéo một cách vô liêm sỉ, đòi giữ bộ lông quý của mình không dính bẩn. Trí tuệ là ngôn ngữ! Ngôn ngữ là trí tuệ! Chúng ta không thể nuốt chửng lời để theo đó nuốt chửng con đường biểu hiện của trí tuệ. Một lần tôi có nói chuyện này với một anh bạn, anh có nói rằng: “Người ta chỉ mất mấy năm học nói, nhưng phải mất cả đời để tập im lặng. Và im lặng là vàng!” Tôi có trả lời:

Im lặng là thái độ sống, chứ không phải trí khôn. Nếu nó được tập cả đời thì là người ta tập đức nhẫn nhục, chứ không phải tập cho trí tuệ.

Người Việt nói: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”, nghĩa là người ta phải học để nói và hành sự ở đời. Và mọi môn học ở đời đều giúp người ta được nói, được viết, được biểu hiện! chứ không phải được im lặng. Người Việt khuyên cần phải “ăn nên đọi, nói lên lời” và “khôn ngoan đến cửa quan mới biết”, chứ không đồng tình cái kiểu: “ấp úng như ngậm hột thị”.

“Ngậm hột thị” là cách tố giác thẳng thắn của người Việt. Có nghĩa là kẻ ăn vụng thị, thấy người đến, liền ấp úng vì chưa thể nuốt trôi, cũng như chưa thể nhả ra hột thị. Khi ăn những thứ khác, gặp người khác đến người ta không phải ấp úng, vì đó là lẽ ăn uống hiển nhiên. Nhưng riêng ăn quả thị thì ấp úng. Tại sao vậy?

Vì đó là miếng ăn không chính đáng, quả thị xưa nay để ngửi chứ không để ăn:

“Thị ơi thị rụng bị bà
Bà để bà ngửi chứ bà không ăn”

Vậy mà kẻ ăn vụng kia, chẳng những ăn vụng, mà ăn cả thứ chỉ được phép ngửi chứ không được ăn, làm gì thấy người đến chẳng ấp úng.

Người Việt cũng vẫn nói theo cách của người Trung Hoa rằng “Danh chính ngôn thuận”. Khi tên tuổi chính danh, ý nghĩa chính đáng, thì ngôn ngữ của người ta cũng trôi chảy một cách chính đáng, thậm chí bay bổng rồng bay phượng múa. Nhưng khi người ta có tà ý, tà danh, tà lợi, thì ngôn ngữ tự nhiên tắc lại, không thể nào trôi chảy. Cách “im lặng là vàng” của người Việt cũng thường xảy ra khi người ta muốn lấy lòng cả đôi đằng, nói cho bên này thì lại sợ bên kia ghét mình, nói cho bên kia thì lại sợ bên này không yêu, nên đành ngậm miệng cho qua.

Chữ “ngậm miệng ăn tiền” rất đúng và căn bệnh cũng lây lan rất nặng. Thậm chí có nhiều vụ án, chỉ vì sợ mất việc làm mà nhiều người, hay cả tập thể sẵn sàng im hơi lặng tiếng, hoặc làm chứng dối, mặc cái sai lộng hành, miễn là ta vẫn được đảm bảo công ăn việc làm là được. Đây là cách, cái lợi được đặt lên trên hết, đặt trên cả công lý. ở nhiều nước phương Tây, kẻ xấu thật khó mua chuộc hay doạ nạt cùng lúc cả ba nhân chứng, vì không người này thì người khác sẽ dằn vặt, trăn trở, tìm cách công bố sự thật. ở Việt Nam thì có khi có cả vài chục người, thậm chí còn hơn thế, đặt cái lợi của mình hay nhóm của mình lên trên, sẵn sàng “ngậm miệng”, mặc kệ sự thật hay công lý muốn ra sao thì ra!

14. Tâm khẩu bất đồng: Khiêm tốn vờ - kiêu hãnh lén - Khen vờ - chê giả

Ở hai phần 12 và 13, chúng ta đã bàn đến nội dung “cả vú lấp miệng em”, và “ngậm miệng ăn tiền”. Cả hai thái cực đó lúc thì hủng hổ dùng ngôn ngữ đoạt cái lý của người khác hay là cái lý của chung, hoặc lúc thì im lặng tảng lờ như không biết - không cần tham dự, đều miệng nói - hay miệng ngậm, nhưng tâm không nghĩ vậy. Bởi lẽ, cả trong trường hợp “cường từ đoạt lý”, người nói cũng xác định trong tâm rằng, cái này mình đuối lý nên cần phải dùng lời để thị uy; cả trong trường hợp im lặng, thì tâm họ cũng biết, nói ra không có lợi, thà im đi còn hơn. “Tâm khẩu bất đồng” là một căn bệnh rất nặng, người Việt nhiễm của người Trung Quốc, đặc biệt trong cả nghìn năm Bắc Thuộc, và thời phong kiến. Người Trung Quốc thường dẫn câu mà dường như chỉ có một con người duy nhất xuất sắc trong lịch sử của họ làm được, là Bao Thanh Thiên, với cuộc hành trình thiên khó vạn nan: “Tâm phục - khẩu phục”. Thời phong kiến, vì sợ hãi vua quan hay thế lực của nhà giầu, lúc nào người ta cũng rập đầu “thần không dám, thần không hiểu, thần có tội!” nhưng trong tâm thì lại bất phục và bất phục tùng. Vì thế, chỉ có quá ít người như Bao Thanh Thiên là thực hiện được công lý - chứng lý rõ ràng, bắt kẻ có tội, cũng như kẻ làm chứng gian phải khuất phục thừa nhận cả khẩu phục lẫn tâm phục.

Nhưng từ Trung Quốc sang Việt Nam trường hợp của Bao Công quá ư hi hữu, còn lại nhiều người sống triền miên trong kiểu tâm khẩu bất đồng. Người ta chào cũng chào rơi, mời cũng mời rơi, xin lỗi cũng xin lỗi rơi, cám ơn cũng cám ơn rơi, rồi khiêm tốn cũng vờ, kiêu hãnh thì phải lén lút chọn chỗ nào an toàn mới dám khoe mình.

Tại sao lại phải chào rơi? Thí dụ có ai chào mình, thì liền nói “không dám!” ra vẻ tôi hèn mọn lắm không đáng lời chào đó. Sau đó thì lại khinh khỉnh ra vẻ tự tôn - tự đại. Tất nhiên ngày nay kiểu nói “không dám” chỉ còn rơi rớt ở các vùng quê. Nhưng ta chớ nghĩ nó đã hết. Mà nó biến tướng một cách rất vơ vẩn. Giờ đây nhiều người Việt tính toán cả từng lời chào. Nhìn những cô gái hay chàng trai trẻ tuổi thì càng dễ nhận ra, đi đâu họ cũng gật gật, hay nghiễm nhiên chẳng cần gật, cũng chẳng cần chào. Than ôi, người Việt nói “Lời chào cao hơn mâm cỗ”, và cũng biết “Tiên học lễ, hậu học văn”, trong “lễ” cái chào nhau phải có đầu tiên, sao người ta lại tính toán đến như vậy. Nhưng ta cũng nên để ý, có người gặp ai cũng chỉ gật, đừng tưởng họ không quen chào thành tiếng, chỉ cần bắt nhìn họ gặp cấp trên, hay người cần nhờ vả mà xem, họ cất lời chào cao hơn cả giọng hát.

Mời rơi, thì người Việt sử dụng khá đại trà. Trước mạt mọi người mời rất trưng diện “Anh phải đến ăn với tôi một bữa đấy nhé! Anh không đến là chẳng còn mặt mũi nào chơi với nhau đâu!” đại loại là rất tha thiết, rất nồng thắm, nhưng đó chỉ là những lời ném ra cho mọi người xem thấy, còn không cần thực hiện. Nếu người bạn tưởng là lời mời thật, đến chơi, thì người ta sẽ cười xòa, lấy lý do nọ, lý do kia.

Nhưng bệnh hoạn nhất là “xin lỗi rơi!” Xin lỗi là cách người ta tự xét mình, và dằn vặt, áy náy thực sự để cất lời xin lỗi. Người được xin lỗi sung sướng vì câu nói thì ít, mà sung sướng rằng ta đã được một con người có liêm sỉ tiếp đãi. Nhưng nhiều người Việt xin lỗi mà chẳng cần dằn vặt gì cả. Gặp hữu sự, họ sẵn sàng xin lỗi, chớ tưởng là họ có một tâm hồn nhạy cảm, mà là họ cứ xin lỗi như một kiểu xin bỏ qua, xin cầu hoà, xin xí xoá. Nghĩa là trong lòng họ không thấy mình mắc nỗi (dù biết đó là lỗi), nhưng vẫn cứ xin lỗi, để người khác bỏ qua cho mình. Sau đó lần sau họ cứ mắc lỗi như thường. Vì mắc lỗi là cách vụ lợi cho mình, quên đi việc làm bổn phận với người khác, vì muốn vụ lợi cho người ta không muốn bỏ thói quen mắc lỗi, nhưng vì sợ người khác trả đũa mình, họ đành đóng vai trá hàng là “xin lỗi”. Việc cám ơn cũng giống vậy, nó như cách đặt một chiếc đó hờ vào tấm lòng quảng đại, vị tha của người khác, nhưng người nói không thực sự cảm ơn.

Vì lời dùng để trục lợi trong cuộc sống nhiều hơn là để trình bày ý tưởng, nên nhiều người Việt, đặc biệt là giới văn nghệ sĩ, hay các trí giả thường áp dụng lối “khiêm tốn vờ, kiêu hãnh lén”. Mở màn, khi ngồi cùng nhau, để giữ cho mình một vị thế an toàn, người ta diễn các trò khiêm tốn “em mới làm thơ ấy mà”, hay “văn tôi chưa tới đâu cả, tôi sáng tác bằng kinh nghiệm bản thân ấy mà”... Sau màn trình diễn đó, dường như mọi người không thể bị sát hạch về tài văn thơ, nghĩa là tất cả chúng ta không phân biệt cao - thấp, vì có so tài đâu, có phán xét đâu, có bình giá đâu, mà có thấp, đã nhẹ nhàng ung dung rủ nhau cùng bước qua vòng “sơ loại”. Tất cả cùng vào, không phân biệt gì thì tất cả bằng nhau? Không đúng, đó chỉ là lúc soát vé vào “rạp” văn thơ. Sau đó vào những lúc an toàn, nghĩa là thấy cách hẩu hay thấy bố mình, chú mình hay con cháu mình đứng bên cạnh, cảm thấy được an toàn người ta bèn lén lút rút ra một chiếc phướn kiêu hãnh. Nếu xung quanh có người reo lên, chiếc phướn đẹp quá nhỉ thì họ liền giấu đi tức thì “không, không, tôi làm gì chiếc có phướn như thế”. Nhưng vào một lúc khác, họ sẽ bảo, chiếc phướn của tôi rất đẹp, nhiều người muốn xem mà tôi chưa cho xem. Kể từ đó, họ cứ thập thụt lan truyền giá trị của mình như thể, nó ở trong vòng bí mật đã thế thì khi được xuất hiện công khai sẽ ghê lắm. Giá trị nghệ thuật là cuộc bày tỏ rất giản dị. Anh có vàng cứ trình ra đi. Người khác cũng đem vàng của mình ra so. Ai có vàng tuổi cao, ai có vàng tuổi thấp, ai vàng mười, ai vàng chín, biết ngay, có gì mà cứ phải thập thò? Nhưng nhiều người trong số này lại bảo, nghệ thuật, văn thơ là thứ khó mà định giá lắm đâu có đơn giản như vàng chỉ qua thử lửa là xong! Bản thân tôi cho rằng, từ nhỏ đến nay, tôi đọc sách, chưa có vấn đề khó đến mức nào mà nhân loại không dám đem ra bàn cãi. Chỉ có đem ra soi chiếu, bàn cãi, con người mới tìm ra được những giá trị chung thuộc về tiếng nói của công lý. Đằng này, không dám đem ra so sánh, trước khi so sánh lại bảo: “mọi sự so sánh là khập khiễng”; cũng không dám đem ra bàn, nói là “nghệ thuật mỗi người ngắm một cách không thể nào có tiếng nói chung”. ấy vậy mà người ta cứ muốn kiếm chác được một giải thưởng, để không qua bình xét mà vẫn hơn người. Sự việc rất trầm trọng, chưa nói đến việc phải bình xét để mọi người nhận ra giá trị của tác phẩm trước khi trao giải, mà ngay cả khi trao giải rồi, ban giám khảo các cuộc thi cũng luôn khép lại các cuộc bàn thảo, không muốn để cho mọi người thấy được cái hay để học. Tại sao vậy? Có phải vì đã “ngậm hột thị” nên đành ấp úng? Đức Khổng Tử có nói: “Biết thì bảo biết, không biết thì bảo không, đó là biết vậy”. Nghĩa là người ta vừa biết được tri thức của mình, lẫn giới hạn của nó để tìm cách nghe, cách học hỏi về cái gì mình thiếu, đó là biết. Như vậy, người làm nghệ thuật, cũng như khoa học sao không dám tỏ hiện mình, có đến đâu thì lộ đến đấy, có tài cao thì được biết tài cao, việc gì cứ phải khiêm tốn vờ, kiêu hãnh lén?

Câu trả lời thật đơn giản, các chuyên gia thế giới cho rằng: “Khi người ta hiểu thì không sợ”. Như vị bác sĩ hiểu đặc tính của các vi trùng, sẽ chữa trị cho bệnh nhân mà không hề sợ hãi. Hay một kiến trúc sư biết rằng, dựng chiếc cột như thế sẽ không thể nào đổ được... đằng này nhiều nhà thơ, nhà văn, cũng như nhiều học giả học hành không đến đầu đến đũa, không hiểu biết, thiếu tự tin, hoá ra sợ hãi, nên không dám làm cả các việc rất hiển nhiên là hãy bày tỏ mình, hãy đặt “ngọc quý” của mình lên bàn, để mọi người bình giá. Người Việt nói:

Trai khôn tìm vợ giữa chốn chợ đông
Gái ngoan tìm chồng giữa chốn ba quân.

Nghĩa là, anh tài, anh giỏi, anh khéo, anh khôn, nó phải là thứ tài - giỏi nổi bật lên giữa chốn đông người - cùng đang bày tỏ.

Tiếp theo còn có nạn “khen vờ - chê giả”. Tại sao phải khen vờ? Vì anh cùng cạ với tôi, hay anh là thủ trưởng tôi, chê anh thì tôi cũng bị lộ ra chẳng có gì để khen, nên dù tôi có thấy tác phẩm của anh chẳng đáng gì, thì tôi vẫn trầm trồ khen để lấy lòng, nào là “tuyệt vời !”, rồi “trên cả tuyệt vời!”... Trái lại, gặp phải kẻ có tác phẩm hay thực sự, nhưng nó lại không cùng cạ với mình, thêm nữa khen nó giỏi thì mình sẽ bị nó trèo lên đầu lên cổ, vậy thì thà chê nó còn hơn. Thế là thấy người ta hay hẳn hoi, vẫn dè bỉu “thế đã ăn thua gì!” “nhằm nhò gì mà đáng để ý!”... Và đã xảy ra nhiều câu chuyện thế này, người ta gửi văn - thơ đến cho các ban biên tập, thấy một “đầu mấu lạ” của người chưa biết luồn lách, biên tập viên liền bảo: “Văn gì viết mà có dị dạng thế này!” Nhưng cũng “đầu mấu” kiểu ấy ở người thân của mình, biên tập viên liền bảo, “hay thật, độc đáo thật!” Hay có những tác phẩm gửi đến bị chê ỏng chê eo, nhưng xếp vào chỗ quý, lâu lâu, thấy tác giả của nó đã nản vì nạn viết không lách được vào chỗ quen, biên tập viên bèn lôi ra xào xáo, chế biến tác phẩm của người, thành của mình.

Người Việt có câu “Tâm xà khẩu phật” chỉ những hạng người, trong tâm thì xấu xa như rắn rết, nhưng tìm cách lươn lẹo trình bày ra những lời hay ý đẹp. Nhưng người Việt cũng nói: “Chí thành - công thánh”, nghĩa là: chỉ có chí thành thật thì công việc sẽ đạt đến kết quả ở mức thánh nhân. Như vậy cũng đã thấy “Thật thà là cha quỉ quái”. Mới võ vẽ học được mấy chữ, rồi võ vẽ mấy vần thơ, vài truyện ngắn, hay mấy công trình dởm thì làm bộ ấp úng nửa kín - nửa hở trình diễn làm gì. Tất cả những thứ đó sao có thể sánh với sự thật về mình! Mình cứ “chí thành” đi , tự nhiên có ngày “công thánh”!


Ngoại tuyến
   
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Người Việt tự ngắm mình
Gửi bàiĐã gửi: 27 Tháng 9 2009 23:16 
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 27 Tháng 8 2009 17:33
Bài viết: 60
15. Được ăn, được nói, được gói mang về

Chúng ta, đã bàn khá dài về lời ăn tiếng nói của người Việt. Điều này rất hệ trọng, vì ngôn ngữ là biểu hiện của trí tuệ - cũng là lương tri, và là nhân cách của con người. Người Việt ví:

Người thanh tiếng nói cũng thanh
Chuông kêu sẽ đánh bên thành cũng kêu.

Hay cũng còn nói:

Chuông khánh còn chẳng ăn ai
Nữa là mảnh chĩnh vứt ngoài bụi tre.

Chuông kêu ngân nga, vì được làm từ phẩm chất bằng kim loại quý, như đồng, có thể pha thêm vàng hay bạc. Như vậy, tiếng chuông đã thể hiện từ trong ra ngoài, kim loại tốt thì tiếng cũng hay. Con người cũng vậy, một triết gia có nói, “Ngôn ngữ là thế giới của một con người, thế giới của anh ta thế nào thì ngôn ngữ thế ấy”. Một nhà khoa học chẳng hạn, ngôn ngữ nhất khoát phải có những từ thuộc khoa học chuyên ngành, một nhạc sĩ thì phải có lời đựng nhạc, một giáo sĩ phải có lời thuộc về tôn giáo, một con buôn thì phải sặc mùi tiền. Để đánh giá một con người, người Trung Quốc cũng coi âm thanh là quan trọng nhất qua câu: “Nhất thanh, Nhị sắc, Tam hình”. Tướng mạo con người chỉ là thứ yếu. Sắc diện như mầu da cũng là thứ yếu. Chỉ có âm thanh là cái biểu đạt từ trong ra ngoài sẽ là chính xác nhất. Người quảng đại không thể có ngôn ngữ cay độc, người nói láu táu không thể có tư duy sâu xa chững chạc.

Lời nói phản ánh nhân phẩm của con người, nên người đời mới khen ngợi những lời nói của người biết trọng nghĩa là “nói như dao chém đá”, “nói như đinh đóng cột”. Người Trung Hoa cũng cho rằng mỗi lời nói có nhân cách thì phải hệ trọng “một lời nói nặng tựa chín đỉnh”. Và lời nói không thể bừa bãi được nếu không sẽ chẳng có cách nào vớt lại danh dự của con người: “Nhất ngôn xuất ký, tứ mã truy nan” (Một lời nói ra, bốn ngựa khó đuổi). Cùng một cách nghĩ, lời nói là hệ trọng mà người Việt bảo: “Sẩy chân còn hơn sẩy miệng”. Và

Trăm năm bia đã thì mòn
Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.

Người phương Tây quan niệm về ngôn ngữ rất trực tiếp, cụ thể, và mạnh mẽ rằng: “Ngà voi không thể mọc từ miệng chó, lời khôn ngoan không xứng miệng kẻ hèn”. Như vậy, họ thẳng thắn chỉ ra, ngôn ngữ là chính con người. Ngôn ngữ cao trọng thì người cao trọng. Ngôn ngữ hèn hạ, ấp úng thì người cũng hèn hạ vớ vẩn.

Trong những trang trước chúng ta đã bàn về nhược thiểu của lý trí, cũng như sự tính toán dùng lời để “mồm miệng đỡ chân tay” hơn là để tư duy, nên ngôn ngữ của nhiều người Việt rất kém (đặc biệt, chúng ta hãy quan sát phóng viên truyền hình lẫn những người được phỏng vấn, họ thường hay nói vấp và ấp úng). Giờ chúng ta hãy bàn trực tiếp đến cách người Việt dùng lời nói để vụ lợi “được ăn, dược nói, được gói mang về”.

Ăn cũng cho miệng! Nói cũng cho miệng! và gói mang về cũng là để giành cho miệng! Có thể nói sinh hoạt cỗ bàn là sinh hoạt quan trọng nhất của người Việt. Dù rước thánh này, hay thánh khác, tiết mục tối hậu quan trọng nhất là hạ thủ lợn, hạ gà, hạ xôi oản xuống để chia ra các mâm. Lễ hội này quan trọng cả về thực phẩm lẫn tâm hồn. Nhưng như câu nói trên chỉ ra, tất cả sự thể hiện trọng đại của một bữa tiệc là qui về mồm.

“Được ăn, được gói mang về” thì dễ hiểu rồi. Nhưng cái đáng bàn là được nói. Người Việt khi đến các nơi gặp gỡ, hội họp, thì muốn dùng ngôn ngữ khoe mình hơn là trình bày ý tưởng. Vả lại trong câu “được ăn, được nói, được gói mang về”, có nghĩa, ai cũng được phần ăn - không sợ mất, ai cũng được phần nói - không sợ thiệt, và ai cũng được gói đem về. Như vậy, ngay cả khi nói, người Việt cũng coi đó là một quyền lợi để chia chác. Có nhiều người đến bữa ăn, sợ mất phần nói, nên kể hết chuyện nhà, chuyện vợ, chuyện con. Họ có thể nói cả mấy giờ đồng hồ, về con họ thích kẹo gì, mặc mầu nào. Khoe khéo khoe khôn cho mình chưa hết, lại khoe khôn cho cả con mình còn chưa kịp lớn, thật hết cửa đề người khác nói. Bởi lẽ trẻ em dù có giỏi thế nào cũng chưa thể là người thành đạt, như người Việt bảo:

Còn hàn vi biết ai hay dở
Trải phong trần mới rõ khá hèn.

Nên khi nghe người đàn ông kể về con mình, người khác cực chẳng đã phải nghe, chẳng lẽ chen nói vào lại mang tiếng đố kỵ với cả trẻ con. Kiểu nói không đối thoại, tràng giang đại hải một cách cố tình, là lối “cướp diễn đàn” của nhiều người. Thôi thì cứ nói chuyện tằm tăm bông bống gì cũng được, miễn là cứ nói tràn cung mây, không cho ai nói xen vào, kẻo họ lại khoe khéo khoe khôn hơn cả mình, hoặc lộ ra mình là người dốt.

Nói chuyện, lấy lời để lấp lời, lấy những thông tin vụn vặt để che phủ lên khát vọng của tri thức, thì làm sao mà trí tuệ lớn lên được. Cho dù con ta có giỏi, nhưng cháu vẫn còn bé, cháu làm sao có thể sống hộ ta những vấn đề đòi minh giải và hiểu biết. Chúng ta thử hình dung, một người học xong đại học, sau đó mấy chục năm, đi đâu anh ta cũng thao thao bất tuyệt về những lời vô thưởng vô phạt, thì trí tuệ có lớn lên không? Suy rộng ra, cái lối không dùng lời để tư duy, mà chỉ nói thao thao “cả vú lấp miệng em”, đã làm cho trí tuệ của dân tộc ta phát triển đến mức nào? Chúng ta hãy nhìn xem, có phải cả 1500 năm nay, từ khi trí giả Việt Nam nho nhe làm thơ Đường, cho đến nay chỉ có mỗi một tiểu thuyết lịch sử ra hồn là “Hoàng Lê Nhất Thống Chí” của Ngô Thì Chí, còn lại là toàn thơ là thơ. Mà hầu hết chỉ gồm những bài ngăn ngắn trong vòng một trang giấy bày tỏ những cảm xúc tủn mủn đời thường. Và trong đó chỉ có một nhà phê bình thơ - nghĩa là người phát triển tư duy luận lý trong thơ là Hoài Thanh xuất hiện. Than ôi, cả nghìn, cả vạn, thậm chí ngót triệu nhà thơ, mà chỉ thấy có một con người nhìn văn học bằng con mắt của tư duy. Điều đó có nói lên trình độ tiến bộ về nhận thức của chúng ta rất thấp, thậm chí dường như dậm chân tại chỗ!

Tại sao có tình trạng đó? Ngôn ngữ là những hạt ngọc của tâm hồn, mà nó lại được dùng như một món trang sức ngụy tín, vô bổ, vô thưởng - vô phạt, vô vị, thì làm sao có thể giúp lý trí tiến bộ! Có một nhà tư tưởng nói: “Kẻ man trá về ngôn ngữ sẽ dẫn đến tàn tật về tri thức, méo mó về nhân cách”. Khi dùng lời chỉ để nói những câu chuyện sáo rỗng, thì một con người khó mà trưởng thành, anh ta sẽ mãi mãi chỉ là một đứa trẻ vừa bẻn mép vừa to xác. Và khi càng nói không có nội dung thì càng hoang mang. Càng hoang mang sợ một lời của người khác nặng tựa chính đỉnh sẽ nhấn chìm những lời bọt bèo của mình, thì lại càng nói, để khoả lấp tất cả quỹ thời gian. Đó cũng là một hình ảnh lớn của văn học Việt. Một ngành dù còn rất bấy - rất yếu nhưng cũng đang đóng vai trò rất lớn trong đời sống nhân văn của dân tộc.

16. Một trăm cái lý không bằng một tý cái tình

Chúng ta đã bàn, lý trí và ngôn ngữ tương tác lẫn nhau. Ngôn ngữ phát triển, lý trí mới phát triển. Và ngược lại, lý trí phát triển, trí tuệ mới dùng lời để biểu đạt mọi chức năng của nó. Xưa nay, lời là kinh sách, là giáo luật, rồi là hiến pháp, pháp luật cũng như quy tắc ứng xử của mọi quốc gia và sắc tộc. Lời là Công lý

Vì không dùng lời để tiến đến lý trí và công lý, nặng về cãi vã hoà cả làng, không minh định nổi chẳng ai đúng, cũng chẳng ai sai, không có công lý làm chỗ tựa vững mạnh cho mình, nên người Việt thiên về co cụm, bấu víu, và đan kết trong tình cảm. Mở màn người ta xác định vị trí bất khả xâm phạm của gia tộc như “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”. Rồi sau đến đơn vị quần tụ xóm làng “Bán anh em xa mua láng giềng gần”. Và sau đó đề cao cái làng của mình lên trên hết nào “Tình làng nghĩa xóm”, nào quanh quẩn gần nhà “xểnh nhà ra thất nghiệp”, rồi

Ta về ta tắm ao ta
Dù trong hay đục ao nhà vẫn hơn


Hay là:

Lấy chồng khó giữa làng
Hơn lấy chồng sang thiên hạ

Và rồi tuyên bố thẳng thừng, dù thế nào, làng ta phải là oai nhất về mọi lẽ: “phép vua thua lệ làng”.

Như vậy, về mặt khoa học nhân chủng, cũng như nhân bản người Việt còn ở trình độ khá âu trĩ. Về mặt khoa học chúng ta biết, càng dựng vợ gả chồng trong những quan hệ gần gũi nhau như trong một làng, thì càng đẻ ra những đứa con còi cọc, ốm yếu, thiển năng. Thiết nghĩ đó cũng là một lý do khiến giống người Việt đã bé lại càng bé. Trái với cách sống ở Việt Nam, người ấn Độ chẳng hạn, trong nhiều làng, họ cấm trai trong làng được bén mảng đến gái cùng làng dù có yêu thầm nhớ trộm thế nào, trai gái cùng làng cũng không được lấy nhau. Mà gái làng ta giành cho trai làng khác. Và trai làng ta phải ra thiên hạ mà kiếm vợ. Như vậy, những đứa con được ra đời từ gien bố ở các xa gien mẹ, nên to lớn mạnh khoẻ.

Tính co cụm, móc nối, cách hẩu là một căn bệnh rất nặng của người Việt, thể hiện ra ở địa phương nào cũng trầm trọng, nó vừa làm phân tán vừa làm suy yếu tính hiệp nhất của quốc gia. Ngay cả thánh thần cũng bị họ chia ra của làng này hay của làng kia, như:

Chuông làng nào làng ấy đánh
Thánh làng nào làng ấy thờ.

Mới đây, còn xảy ra cả vụ tranh thờ các thánh để vụ lợi ngay ở địa bàn giáp ranh hai tỉnh Hà Tây và Hà Nam. ở bên Hà Tây có đền Đức Thánh cả. Bên Hà Nam, thấy bên đó có người đi lễ rầm rập, buôn vàng, bán mã, bán đồ cúng lễ rất phát đạt, liền rào dậu không cho khách thập phương đi qua địa phận làng mình. Sau đó nhái lại làm một đền Thánh cả giống bản nguyên như đúc để lôi kéo khách thập phương đến cúng lễ, mong kiếm lời (đây là tin được đưa trên truyền hình tháng 3/2003).

Trong mọi việc vì không giải quyết theo lý mà chỉ lụy tình, người Việt thường có thói quen : người càng thân ta thì càng đúng hơn. Thậm chí có việc người nhà ta, người làng ta, người cơ quan ta sai lè lè, không còn cách nào khác, người đứng ra bênh vực bảo: “anh này cũng đúng, anh kia cũng chẳng sai”. Vì thế mọi người mới có kiểu xưng hùng xưng bá địa phương: “Chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng”. ở phương Tây có một cầu thủ vấp phải một cầu thủ của đối phương. Trọng tài phạt thẻ đỏ cầu thủ của đối phương, và cho đội của anh này một quả phạt đền. Lẽ ra anh này phải rất mừng cho mình cũng như đội nhà, được ăn không quả phạt đền của đối phương, nhưng cầu thủ này lại ra sức nói hộ cho bên đối phương - là họ không phạm lỗi. Sau sự kiện này, báo chí đăng tin rầm rộ khen ngợi tấm lòng yêu lẽ phải - ngay thẳng của cầu thủ nọ. Một cầu thủ, trình độ văn hoá có hạn mà đã có cư xử cao cả đến vậy, là cách mà chúng ta nên suy nghĩ.

Nhưng khi đã cậy gần nhà để có người bênh, thì những con người đó đi sang làng khác, địa phương khác lại mất thiêng, không có ai bảo vệ nữa, cho nên dù có đúng - có phải cũng trở thành yếu đuối. Đấy, cái kiểu “công lý người làng” hay “công lý tình cảm” yếu ớt đến vậy, ra khỏi làng, là bị phụ thuộc ngay “công lý của làng khác”.

Chưa hết, sự cấu kết tình cảm sẽ trở nên hết sức yếu đuối, khi người ta tập trung lại để ỷ thế chiếm ưu thế so với người khác, nhưng ngay trong nhóm sẽ xảy ra, ai cao nhất, ai thấp nhất, ai được làm ông chủ - ai phải hầu hạ, ai được lợi và ai bị thiệt? Người ta không minh định nổi vì không có công lý. Thế là người ta đành giở võ vị kỷ, ức hiếp, thủ thế lẫn nhau. Để phản ánh tình trạng này, người Việt có câu: “Chung nhau thì giầu, chia nhau thì khó”. Và chính lúc chia phần mới là cái lúc “cùng dục vọng thì tranh giành, cắn xé, lấn lướt nhau”.

Nhìn vào đời sống, lúc nào cũng có thể thấy ngay tính dễ liên kết dễ xé lẻ của người Việt. Chúng ta vẫn gặp, nhiều người chỉ cần mua một chiếc kẹo, hay bơm một lốp xe, người ta đã xưng hô ngọt xớt “mẹ cho con cái kẹo” hay “bố xem cho con lốp xe”... Chưa quen mà người ta đã xưng hô quá thân mật để làm gì? Để mong người khác có thể lấy rẻ cho mình vài hào, vài giá. Gặp những cảnh đó, có ông già liền nói thẳng “tôi có đẻ ra anh đâu mà là bố anh?”... Ông già đấy cũng khôn, vì ông biết được cái thân tình dễ có thì cũng dễ bị hất bỏ. Có anh vừa câu trước còn gọi “bố già bán cho con cái này, cái kia”, được lúc sau đã chửi “đ. mẹ thằng già”.

Con người có thân thì phải có sơ, có quen thì có lạ. Từ lạ đến quen phải có quá trình. Chưa quen mà hạ giọng thân tình như ruột thịt là cánh trục lợi. Chúng ta vẫn biết, như loài cầm thú thôi, con chó muốn trông nhà tốt, thì không phải bạ ai cũng làm quen. Vì kẻ trộm mới lần đầu muốn làm quen thì trước hết quẳng thức ăn cho chó (có khi đánh bả), sau đó nhổ nước miếng cho chó liếm coi như đưa ra “thông điệp mùi”, để tối tao có quay lại đào tường khoét ngạch ngươi đã quen hơi bén tiếng rồi thì đừng có sủa. Như vậy có lạ - có quen, trước lạ sau quen là một quy trình rất tự nhiên. Con người chớ nên muốn trục lợi mà đòi vượt tắt qua chặng này, mong lấy cái tình xoa đi cái lý. Cũng còn những kiểu xưng xưng mọc mọc khác chẳng hạn, đến nhờ hay mua của người ta cái gì liền dở ngay võ tình cảm đã rồi, như: “Cháu biết mà, bác nỡ gì cư xử xa cách với cháu, bác coi cháu như người nhà ấy mà, bác bán cho cháu cái xe này khác gì nhượng lại cho con, cho cháu...” Cứ thế màn diễn văn này cứ lặp đi lặp lại cho đến khi nào người bán phải bán rẻ mới thôi.

17. Gia trưởng độc đoán

Người Việt nói: “Sợ người ở phải, hãi người cho ăn” Người ở phải là người sống đúng đắn, hiển nhiên đã có sức mạnh của sự thật và công lý. Người đó mạnh đến mức có thể làm kinh hãi cả đám gian thần và nịnh thần dù đông nhung nhúc. Chính vậy một triết gia đã nói: “Mình tôi với chân lý là đa số”. Điều đó có nghĩa là, bất cứ cá nhân nào sống theo lẽ phải và chân lý thì họ có sức mạnh còn lớn hơn cả số đông sai trái. Chính vì điều này mà Bao Thanh Thiên nổi tiếng thanh liêm - công chính, đã đúc kết nhiều vụ án của ông qua một câu nói: “Đạo người không bằng đạo trời”. Đạo trời, chính là công lý của vũ trụ kết hợp với nhân sinh trong các nguyên lý của sự thật. Trong khi đó, đạo người ỷ đông, ỷ mạnh, có nhằm nhò gì. Người Trung Quốc cũng chứng tỏ sức mạnh của công lý mạnh như lưới trời: “Thiên vòng khơi khơi sơ nhi bất lậu” (lưới trời lồng lộng, thưa mà không lọt).

Vì sống thiếu chính đáng, lẽ phải, và công lý, con người thường phải tụ bạ bấu víu đan kết theo lối bè lũ vào nhau. Nhưng sự đan kết đó rất yếu, vì khởi sự người ta cần vụ lợi nên cấu kết với nhau, nên sau khi đã cấu kết người ta vẫn tiếp tục tính toán vụ lợi cho mình. Kết quả, sự móc nối vụ lợi lẫn nhau sẽ mục ruỗng và tan rã. Nếu còn chỉ là hình thức cấu kết hờ, cực chẳng đã. Chúng ta hãy bàn vào gia đình hạt nhân, cha mẹ, vợ chồng, con cái, tưởng là góc trú ẩn nhiều yêu thương nhất, nhưng ở đó nó cũng khơi ra những tính toán ích kỷ đến cay nghiệt. Nơi đó còn thế, nữa là các kiểu cấu kết, tụ bạ hờ.

Gần đây, xứ ta, nổi lên có nhiều vụ cha giết con, con giết cha rất đau lòng. Còn các vụ cha mẹ bán con gái lấy một chút tiền thì đếm khôn kể. Chẳng hạn, có hai chị em gái mới qua tuổi vị thành niên, bị mẹ bán sang Cam-pu-chia, mới được vài năm phải phục vụ thú vui thân xác cho đàn ông để kiếm sống, hai chị em đã thân tàn ma dại, bị công an bắt, rồi được thả về quê. Về đến quê nhà, cái mà hai chị em này sợ nhất là phải nhìn thấy mẹ mình, kẻ đã đẩy hai chị em vào con đường địa ngục.

Đấy chỉ là sơ sơ nêu lên tính sự kiện. Nhưng cái ích kỷ của gia đình người Việt là một căn bệnh nhức nhối, bị di hậu trong cả ngàn năm, theo tinh thần xã hội và giáo dục, cũng như lề luật. Mở đầu, thời phong kiến đã bắt người ta phải nhất nhất tuân theo:

“Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung,
Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu”.

Nghĩa là: Vua xử bề tôi phải chết, nếu không chết là bất trung. Cha xử con chết nếu không chết là bất hiếu. Thôi làm vua một nước xử thần chết là phải chết, ta chưa cần bàn. Đằng này trong gia đình, là cha thôi đã toàn quyền bắt con chết là phải chết.

Chưa hết, tất cả quyền định đoạt sống chết đó được trao cho tất cả những ai sống ở trên, như cha, như anh. Sau cha là đến anh cũng oai không kém “Quyền huynh thế phụ”. Và làm em thì phải nhịn nhục “làm em ăn thèm vác nặng”. Làm thân con trai đã thế, làm thân con gái thì nhục trăm bề, phải theo Tam Tòng: “Tại gia tòng phu, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”, nghĩa là ở nhà theo cha, xuất giá theo chồng, chồng chết theo con. Vì quyền lực áp đặt từ trên xuống dưới, từ nam xuống nữ đến thế, nên mới nảy sinh tình trạng độc đoán, gia trưởng của người cha với con cái, và người mẹ đối với con gái con dâu. Nào là:

Cha nói oan
Quan nói hiếp
Chồng có nghiệp nói thừa

Hoặc là:

Muốn nói ngoa làm cha mà nói
Muốn nói không làm chồng mà nói.

Còn phía phụ nữ thì: “Giặc bên ngô không bằng bà cô bên chồng”.

Tình trạng độc đoán giá trưởng còn lộng hành cho đến ngày nay. Có rất nhiều đàn ông đã bỏ áo the khăn xếp, nhưng hoàn toàn nghĩ, sống, và hành xử như những thủ lĩnh phong kiến mặc đồ tây. Có không ít cha mẹ vẫn tìm cách “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”, áp đặt chuyện hôn nhân, làm xảy ra khá nhiều các vụ quyên sinh của đôi tình nhân “chúng ta không lấy được nhau thì thà chết còn hơn”. Mà lý do, để cha mẹ ép gả, nhiều khi chỉ là những tham lam, tính toán vị kỷ vơ vào cho mình hết sức vặt vãnh tầm thường, như xưa nay người việt vẫn chỉ rao:

Mẹ tôi tham thúng xôi rền
Tham con lợn béo, tham tiền cảnh thưng
Tôi đã bảo mẹ rằng đừng
Mẹ hấm mẹ hứ mẹ bưng ngay vào.
Bây giờ chồng thấp vợ cao
Như đôi đưa lệch so sao cho bằng

Hay là:

Cha mẹ đòi ăn cá thu
Gả con xuống biển mù mù tăm tăm

Để tham một cuộc hôn nhân cho mình, chứ không phải cho con:

Có con gái gả chồng gần
Có bát canh cần nó cũng đem cho
Hoài con mà gả chồng xa
Một là mất giỗ, hai là mất con

Xưa kia, người ta đẻ nhiều, thôi thì cứ gả con gái cho ai cũng được, miễn là nhà giầu để kiếm được tiền sính lễ nhiều. Giờ đây, mỗi gia đình chỉ được phép đẻ hai con, nên nhiều cha mẹ không chỉ tham giầu, mà còn tham con lấy chồng gần, để thỉnh thoảng chạy qua chạy lại làm “ô - sin”(nhân vật làm người ở của phim Nhật) cho bố mẹ. Nhiều gia đình, con cái đã tốt nghiệp đại học, mà không để con có cả cơ hội cư xử như người có học. Cha cấm cửa con cái. Ra chào khách hộ con, khi tiễn cũng tiễn hộ con. Rồi bản thân vừa làm thuyết khách vừa làm kế “phản gián” cả hai chiều. Với chàng trai, nếu không ưng, ông ta nói: “con tôi nó chẳng ưng anh đâu!” Rồi với con gái ông bố bảo: “Anh ấy chẳng coi con ra gì đâu! Thiết gì mà nghĩ đến loại đàn ông đó”. Nếu sự thể đôi uyên ương càng xích lại gần nhau, thì cha mẹ lại càng thao diễn những trò gian dối, nói này, nói nọ, đâm ra chầy của để phá cho bằng được.

Chỉ vì cha mẹ nói ngang
Làm cho đũa ngọc mâm vàng xa nhau.

Ngăn cấm con cái đã đành, nhiều khi lại đơm lời đặt tiếng cho con cái, khiến cho người ngoài đánh giá con mình không có cả lương tâm. Thật là quá ích kỷ. ích kỷ thứ nhất là không cho con cái được sống một cách đường hoàng ngay trong nhà mình, ra vào tiếp khách không được phép, khép nép như thứ con ở. ích kỷ thứ hai là sẵn sàng bôi nhọ tâm hồn con để làm lợi cho mình. Một lần, tôi đi qua một quán nước nằm đầu ngõ hẻm. Thấy hai cha con nhà kia chửi nhau:

- Cha thì bê tha, rượu chè, vạ vật lè nhè chủi: “Tao đẻ mày ra, mày không được hỗn”.

- Đứa con là thứ lang thang, vật vờ vì thiếu bàn tay quan tâm của cha mẹ, trả lời như đã suy nghĩ từ lâu: “Tôi cũng cóc cần là con ông. Ông xem, người khác có bố thì được trông cậy, được thơm lây, còn tôi, có bố là một nỗi nhục. Tôi đếch cần nỗi nhục ấy”.

Thế đấy, vậy mà, có nhiều cha mẹ khi không bắt ép dược con cái dựng vợ gả chồng theo ý mình thì liền bảo: “Tao từ mày, coi như tao chưa đẻ ra mày”. Thật là ấm ớ và vớ vẩn. Có một sự thật lớn nhất là cha mẹ đã lấy nhau. Mẹ đã mang thai con chín tháng mười ngày, đã đẻ con ra, sự thật đó được cả vũ trụ chứng nhận, vậy mà họ sẵn sàng từ chối sự thật đó, thử hỏi có gì liêm sỉ mà họ không dám làm?

Cũng vớ vẩn không kém, nhiều bậc cha mẹ đụng một tí là đuổi con ra khỏi nhà. Theo pháp luật, thì nhà đó có cả phần của đứa con trong đó, tại sao mình lại có quyền đuổi nó. Đặc biệt với các gia đình được cấp nhà, cho đôi vợ chồng có giấy hôn thú, rồi cho con ngay từ lúc đẻ ra - làm giấy khai sinh, thì cha mẹ chúng làm gì có quyền đuổi con ra khỏi nhà, khi mà chính con họ cũng có quyền dự phần trong ngôi nhà đó.

Khi cha mẹ ức hiếp quyền sống của con cái, thậm chí coi con cái như phương tiện sống cho mình, cũng là các triết gia, đặc biệt là triết gia Kant và Hegel, gọi đó là hình thức bị coi như nô lệ, thì những đứa con không dám phản đối lại, nhưng gây ra những chống đối ngầm, hay bí mật tích luỹ ích kỷ cho riêng mình. Lịch sử của Trung Quốc và Việt Nam, đầy rẫy các chuyện trong cung đình, anh em tróc nã, giết chóc, giành giật quyền hành lẫn nhau. Còn ở thứ dân thì các bi kịch xảy ra, tuy không khốc liệt bằng, nhưng cũng đầy những tai ương “nồi da xáo thịt”.

Sự ích kỷ trong gia đình người Việt biểu lộ một cách rõ nhất, khó mà chối cãi qua cách sống: “Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào”. Đó cũng là lối sống thích hợp và tương ứng với kiểu “Ăn xổi ở thì”, “Nước đến chân mới nhảy”, hay sống ngày nào qua ngày đó. ở phương Tây, người ta có nhiều chai rượu cất đến vài trăm năm, nho từ đời ông ủ đến đời chút - chít, mới đóng vào chai. Hay có những khúc gỗ làm đàn mua rất đắt tiền, lại ngâm nước qua mấy đời, từ ông, qua cha, đến cháu, rồi chít mới đem ra làm đàn. Hay trong rất nhiều ngành sản xuất khác, hoặc trong việc để lại tài sản cho con cái, người phương Tây thường có cách đầu tư lâu dài cho các thế hệ sau. Chẳng hạn, khách du lịch thăm Mát - xcơ - va, có những đường phố ở trung tâm, xưa kia chỉ làm cho xe ngựa đi, vào lúc mật độ dân số còn thưa thớt, vậy mà những lớp con cháu hiện đại của họ giờ đây vẫn thấy rất thênh thang. Đúng là đời ông, đời cha làm, cho con cháu không phải làm lại nữa. Trái lại đường xá, nhà cửa ở xứ ta mới làm vài năm đã phải cơi nới, đập đi xây lại để phù hợp với chức năng mới. Thật đúng là, không những lớp con cháu không được hưởng lộc của cha ông, mà còn “đời cha ăn ốc đời con đổ vỏ”.

Cách sống ích kỷ của ông cha, mới kiếm được vài xu, đã tìm cách lấy vợ bé, mua rượu về chén chú chén anh, mặc kệ đời con “đời cua cua máy đời cáy cáy đào”, đã dẫn đến sự ích kỷ không kém tàn nhẫn của lớp con em. Thời hiện đại, không ít những người nghĩ rằng: “cha mẹ già chỉ là thứ phân bón cho đời con”. Nghĩ mà rùng mình!


Ngoại tuyến
   
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Người Việt tự ngắm mình
Gửi bàiĐã gửi: 27 Tháng 9 2009 23:16 
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 27 Tháng 8 2009 17:33
Bài viết: 60
18. Ích kỷ, đố kỵ. trâu buộc ghét trâu ăn

Trong gia đình, vì người trên ích kỷ chỉ tính cái lợi cho mình, nên con cháu chẳng còn cách nào khác là đem cái tính toán vụ lợi cho mình thi thố ngoài thiên hạ. Xưa kia người Trung Quốc có câu: “Kẻ chỉ tính lợi cho mình sẽ hại đến gia đình, kẻ vụ lợi cho nhà mình sẽ hại cho xóm giềng, kẻ vụ lợi cho xóm giềng sẽ hại đến xã tắc, kẻ vụ lợi cho xã tắc sẽ hại đến thiên hạ”.

Chúng ta đã biết, kết quả vụ lợi cho cá nhân mình, cho nhà mình, và cho làng mình, mà dẫn đến: “Phép vua thua lệ làng”. Người Việt vẫn nói: “ích kỷ hại nhân”. Vì sự vụ lợi cho mình mà hại đến người khác. Có thể nói nhìn đâu cũng thấy sự ích kỷ manh mún của người Việt.

Ngay ở trung tâm Hà Nội, tôi thường xuyên được chứng kiến cảnh thế này. Sau khi nghe xong buổi hoà nhạc cổ điển, những khán giả đổ ra bãi xe máy. Việc đầu tiên, hầu hết người nào người nấy khởi động nổ máy, rồi vội vàng lao ra cửa. Nhưng ai cũng làm vậy nên dồn tắc lại. Cả đám đông, nói chung thuộc giai tầng văn hoá cao nhất xã hội, những người đã yêu thích nhạc giao hưởng, thính phòng, vậy mà tất cả lại “tự giác” nổ máy, cam chịu ăn khói và nghe tiếng nổ giữa một bãi xe tắc nghẽn đông cứng lại. Có một điều đơn giản, thay vì nổ máy để người khác phải ăn khói và nghe tiếng nổ, tại sao chúng ta lại không chịu khó dắt xe qua cổng, để người khác không phải ăn khói của xe mình, cũng như mình không phải ăn khói của xe người khác? Câu trả lời có phải vì trình độ văn hoá của chúng ta còn khá thấp, và trình độ ích kỷ còn khá cao? Còn những việc khác, uống xong một lon bia, người ta quẳng nó ra giữa đường, như vậy rác của ta đã trở thành rác của xã hội. Hay quét nhà, vớ được con chuột chết, người ta cũng quẳng nó ra ngoài đường, ném ra đó để “cha chung không ai khóc”. Hiện nay, ở nhiều thành phố, đâu cũng thấy cảnh này, người ta xây nhà to, cao, nhưng chỉ trừ mặt tiền người ta làm rất đẹp, nhưng ba phía kia quét hắc ín để chống ẩm, và họ cứ bày cả ba mảng tường đen xì đó kệ cho hàng xóm và thiên hạ thưởng thức. Một hình ảnh vừa ích kỷ, vừa nghèo hèn, xây được cái nhà to đến vậy, mà còn nhất định chỉ quét sơn phía trước cho mình đi ra đi vào, mặc kệ phía còn lại. ích kỷ biểu hiện cao độ là “Sống chết mặc bay tiền thầy bỏ túi”, như nạn “đinh tặc” xảy ra mới đây chẳng hạn, có một số kẻ đã rải các loại đinh xuống đường, để phá lốp các xe máy đang chạy tốc độ cao, nhiều xe thủng lốp, mất tay lái gây tai nạn, mà mục đích kẻ rải đinh, chỉ định kiếm chút công ăn việc làm bằng công vá săm cắt cổ. Còn sự ích kỷ tắc trách lớn thì không thể lường hết hậu quả của nó. Như cầu chui Văn Thánh hai chẳng hạn, do bị ăn bớt vật liệu, công xây dựng, mà cầu mới xây xong đã rạn nứt xuống cấp, gây nguy hiểm cho khách qua lại cũng như cả một bộ phận lớn của dân cư xung quanh. Mới đây, còn có cả những chuyện, người ta bắc cả những cây cầu giá cả tỉ đồng qua những khúc sông không có đường đi, và chiếc cầu vừa to, vừa dài, vừa chắc đó, chẳng để làm gì ngoài việc nó lý giải cho một khoản tiền thụt két nào đó. Lợi cho mình - hại mặc người, là mục đích theo đuổi của rất nhiều người ích kỷ, như các hợp đồng mua máy bay cũ, hay thuốc tân dược hết hạn sử dụng, hoặc các hợp đồng lao động ép giá công rẻ mạt khác... Để kiếm tiền lời - chia đôi bỏ túi cả tỷ, còn mặc người đi máy bay mất an toàn, hay người uống thuốc dởm mắc tai nạn, cũng mặc kệ. Những việc trông thấy đã vậy, còn những việc khó trông thấy, còn xảy ra vô cùng khuất tất. Chẳng hạn một cỗ máy đắt tiền mua về đắp chiếu bỏ đấy, một hợp đồng nhiều tiền đã được thực thi, nhưng có một chi tiết máy, hay một chi tiết nào đó thuộc chức năng hoặc lý do không vận hành, thế là cả cỗ máy nằm mơ cũng không có ấy, trở thành một đống sắt nằm liệt vị.

Còn một sự ích kỷ đại trà hiện nay là quan hệ yêu đương trai gái. Thôi thì cảnh bê tha, nguyền rủa nhau xảy ra ở khắp nơi. Vì nhiều trai thanh gái lịch, sinh ra trong các gia đình, bố mẹ tính toán ích kỷ chỉ nghĩ lợi cho mình, nên bước ra đời họ cũng chỉ lo tính toán cho mình. Đặc biệt trong thời buổi kinh tế thị trường ngày nay, tính thực dụng phi nhân của nhiều người càng phát triển. Nạn trục lợi, trục lạc trong quan hệ khác giới hoành hành một bộ phận rất lớn của xã hội. Khiến nhân cánh tha hoá đến mức báo động. Chàng kia trục lạc nàng sau đó bỏ rơi nàng trong nhà y tế - đang lo nạo thai, rồi sau đó bị nàng nguyền rủa không tiếc một lời nào. Hay nàng nọ đưa chàng hoặc vài chàng vào trong ống ngắm của một máy tính nhẩm, trục hết các lợi ích của chàng, sau đó thải chàng vào trong sọt rác như chưa từng quen biết, khiến chàng phải rủa “đúng là đàn bà nan hoá”. Triết gia J.P Sartre có nói “Đam mê là trách nhiệm”. Vì đam mê giới tính giữa chàng với nàng là một mối liên kết con người sâu xa nhất, bởi thế nó cần phải được thực thi bằng một trách nhiệm nhân bản nặng nề và nặng tình nhất. Người Trung Quốc quan niệm: “Hạnh phúc” là muốn hưởng Phúc thì Phải tròn bổn phận. Như người Việt quan niệm:

Có vất vả mới thanh nhàn
Không dưng ai dễ cầm tàn che cho.

Không trồng cây sao đòi hái quả. Trong quan hệ yêu đương, cả tiền yêu đương là khi lựa chọn có thể có - có thể không và hậu yêu đương là khi chia tay, con người muốn hưởng lạc thú tình yêu, thì cần phải biết thực thi những bổn phận của mình, chớ để phải trở thành nạn nhân bị nguyền rủa của con tim.

Nạn đố kỵ ở ta, xảy ra vừa đại trà vừa mạnh mẽ, với nhiều hình thức. Có khi thấy con lợn hàng xóm lớn nhanh hơn lợn nhà mình cũng tức. Thấy hàng xóm xây nhà cũng tức. Hay thấy con cái người thành đạt cũng tức. Trước kia trong chiến tranh, ở địa phương nào cũng gặp cảnh, nhiều gia đình có giấy gọi đi học đại học, hoặc đi nước ngoài thì bị đường dây xã, thôn, xóm giữ lại; nhưng trái lại khi có giấy gọi nhập ngũ thì được đưa rất nhanh. Việc thẩm tra lý lịch cá nhân cũng vậy. Nếu điều tra để cháu đi bộ đội hay thanh niên xung phong thì nói chung “anh này tốt”, nhưng điều tra để đi học nước ngoài hay vào Đảng thì “anh này còn nhiều vấn đề lắm, hình như thế nọ, hình như thế kia”, người ta nói ra rất nhiều những thứ khẩu thiệt vô bằng. Tình trạng đố kỵ mạnh đến mức, ở nhiều miền quê, hay miền núi, chi bộ Đảng trong mấy chục năm không có nổi một Đảng viên mới nào, nếu có một vài Đảng viên trẻ tuổi thì số này đã thoát ly, đi bộ đội, hay công tác, vào Đảng ở đơn vị và cơ quan, chuyển sinh hoạt Đảng về quê. Tại sao có tình trạng đó? Vì mấy ông Đảng viên già không muốn chia quyền lợi lãnh đạo địa phương cùng những người trẻ tuổi xông xáo hơn, không muốn nhìn các Đảng viên trẻ ngồi cùng chiếu với mình, nên cùng tâm không phát triển Đảng vào giới trẻ.

Tình trạng “trâu buộc ghét trâu ăn” diễn ra tràn lan khắp nơi, đó là thứ tâm lý tiểu nông cỏn con, manh mún gây cản trở rất nhiều cho sự phát triển của toàn xã hội. Tình trạng này càng trở nên gay gắt hơn, khi tính chuyên môn ở ta còn chưa được nâng cao, nền nông nghiệp chưa phân hoá thành các nghề đa dạng như thủ công nghiệp, hay công nghiệp hoá. ở đầu cuốn sách chúng ta đã bàn về tính “sở trường” và chuyên môn hoá. Một cô hàng thịt bán hàng cạnh một cô hàng rau, cạnh một cô hàng muối, cạnh một cô hàng xén, cạnh một cô bán hàng giải khát, thì sự cạnh tranh gần như không có. Vì lẽ người ta vừa muốn mua thịt, vừa muốn mua rau, mua muối, và uống nước. Nhưng nếu các cô không biết mở quán theo sở trường của mình, thấy hàng hoa có lãi chẳng hạn, liền đổ xô vào buôn bán hoa, sẽ dẫn đến cạnh tranh, đố kỵ khủng khiếp.

Lâu nay, và bây giờ vẫn còn khá phổ biến công thức tiến thân của một con người là: học xong kiếm một việc làm trong hệ thống nhà nước, người lo trau dồi chuyên môn thì ít, người lo leo ghế thì nhiều, kết quả gây quá tải trong các cơ quan công quyền, làm cho sự cạnh tranh đố kỵ thiếu lành mạnh càng ngày trông giống con đường một mất - một còn, quá hẹp, chỉ lo tiến thân bằng sở đoản hơn là thực thi những chức năng có sở trường.


19. Nịnh trên, đạp dưới, đá ngang

Người Việt có câu:

Lười hay cười nụ
Cả vú thích vuốt ve.

Tại sao, lười hay cười nụ? Vì cười để mọi người xí xoá cho mình. Chính vì thế mà người Việt còn nói: “Cười cầu tài”. Tài thức là tiền. Cười kiểu đó là cười vụ lợi, làm dối, làm ẩu, làm quấy quá sau đó cứ diễn những nụ cười cầu tài. Người ta cười cầu tài nhiều đến mức, nhiều nhà dân gian hiện đại đã dùng cụm từ “nhe răng thường trực”. Nghĩa là có những người cười và cười, mọi nơi mọi lúc, mong người ta xí xoá cho mình hết cái này đến cái khác. Người Việt cười cầu tài nhiều đến mức, các nhà ca dao hiện đại đã đặt vè.

Ăn nhanh, đi chậm, hay cười
Hay mua đồ cũ là người nào đây?

Cười cầu tài cũng là cười nịnh, ra vẻ ta thân tình lắm, ta cởi mở lắm với mọi người, và xin mọi người hãy nương tay hoặc ưu tiên cho công việc tồi hay sản phẩm xấu của ta.

Nhưng ở đời, đã nịnh với trên thì lại ra vẻ hoạnh họe với kẻ dưới. Nịnh với người trên để vụ lợi. Nạt nộ kẻ dưới để ra oai. Các nhà xã hội học phát hiện rằng, những đứa trẻ con chơi trò dạy và học, thì rất nhanh rã đám, bởi vì đứa nào cũng muốn được làm thầy giáo, cô giáo, ra tay bắt học sinh phải trả lời thế này thế nọ, làm cho đứa làm học sinh phải bị vâng lời đâm ra chóng chán. Như vậy cái bản năng quyền lực của con người đã nảy sinh một cách rất tự nhiên từ thời thơ ấu. Triết gia Aristote nói rằng: “Con người là một động vật xã hội”, và cũng còn có câu “Con người là một động vật chính trị”. Điều đó cũng thật hiển nhiên và lô gíc, vì chính trị đóng vai trò trọng tâm nhất của hệ thống xã hội. Như vậy quyền lực trong ý nghĩa chính đáng là động năng vận động tốt lành của một xã hội. Khi đó người có chức quyền cao là người được chọn trong sứ mệnh cao hơn người, để thực thi chức năng giúp hệ thống công quyền hoạt động. Đó vừa là giá trị vừa là văn hoá của quyền lực.

Đằng này, với không ít người, quyền lực chỉ đơn giản ăn trên ngồi chốc người khác, hưởng bổng lộc hơn, viết văn, làm thơ, vẽ, làm phim thì dễ được giải thưởng. Chúng ta hãy quay trở lại trò chơi “dạy và học” của trẻ con. Trò chơi rã đám, vì ở đó, một cách tự nhiên, những đứa trẻ đã thích ăn trên ngồi chốc các bạn, và cũng bởi đó ý nghĩa “vì người khác” bị hạ thấp. Một trò chơi để mọi người cùng vui, lại chỉ giành cho một vài đứa vui vì được ra lệnh, còn những đứa khác phải buồn khi thấy mình lủi thủi vâng lệnh bạn như con ở. (vì vậy trẻ con thường chuyển sang trò chơi bán hàng - mua hàng, cách đó bình đẳng hơn, vì thuận mua vừa bán).

Vì nếu ai cũng muốn ăn trên ngồi chốc, thì sẽ sinh cảnh cạnh tranh. Người Việt có câu ca dao hiện đại: “Căng da lưng chùng da bụng”. Đó là những kẻ thấy người mạnh hơn mình thì gập mình xuống nịnh bợ để được nâng đỡ tiến thân, vì thế mà da lưng cứ căng lên, còn da bụng thì gấp lại. Chưa hết, nhìn thấy kẻ yếu hơn mình thì đạp lên đầu mà đi. Còn những kẻ ngang mình, thì tìm cách phá ngang. Bởi thế mới có câu tục ngữ hiện đại chỉ lối cạnh tranh tiến thân là: “nịnh trên, đạp dưới, đá ngang”.

Về việc ích kỷ, đố kỵ, chèn ép, kéo kẻ ở trên xuống, không muốn cho ai hơn mình, người Việt có một câu chuyện tiếu lâm hiện đại rằng: Tổ chức cảnh sát quốc tế xây dựng một trung tâm tạm giam quốc tế, để bắt giữ tội phạm của các nước. Ông giám đốc ra lệnh cho các nhân viên rằng: nhà giam của tội phạm các nước cần làm tường và mái chắc chắn. Vì nếu không làm vậy, chúng sẽ công kênh trèo lên vai nhau, chuồn ra ngoài. Nhưng nhà giam cho các phạm nhân người Việt thì không cần mái, vì có đứa nào sắp leo lên khỏi tường thì sẽ bị chính đồng bọn của mình lôi xuống. Vì chúng không muốn cho ai hơn mình, theo cách sống đã hằn sâu trong óc: “Chết một đống còn hơn sống một mống”.

Câu chuyện của người Việt nghĩ ra tự giễu cợt chính thói ích kỷ của mình, rất đáng để chúng ta cùng nghĩ ngợi.


Ngoại tuyến
   
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Người Việt tự ngắm mình
Gửi bàiĐã gửi: 27 Tháng 9 2009 23:17 
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 27 Tháng 8 2009 17:33
Bài viết: 60
0. Tính khí thất thường: mai nắng - trưa mưa - chiều nồm

Lý trí bao giờ cũng tiến đến nguyên lý hành động cốt yếu của mỗi người, cũng như xã hội. Khi lý trí yếu, lại chỉ sống nhờ vào những cảm xúc nông nổi, thì hiển nhiên con người sẽ sống theo những phản xạ “dễ làm khó bỏ”, chúng thay đổi, và bồng bột. Người Việt có hàng loạt các câu tục ngữ, ca dao để diễn tả lối sống “được chăng hay chớ” này. Chúng ta vẫn biết, đời sống lý trí rất quan trọng vì nó quy định: đó là đời sống của ông chủ. Còn đời sống của cảm xúc tuỳ tiện “được chăng hay chớ” chỉ quy định trình độ sống còn ở mức bản năng - con sen thằng ở.

Người Việt nói: “Mai nắng, trưa mưa, chiều nồm”, là muốn nói khí hậu ở xứ ta phức tạp; sáng ra thì nắng, trưa thì mưa, chiều lại trở gió nồm, còn tối và đêm không biết gió gì. Nhưng câu nói trên cũng chỉ hạng người thay đổi như chong chóng, lúc thế này lúc thế khác. Lý trí không có mặt để ấn định cho mình một chủ kiến nhất định.

Từ sự thay đổi “thời tiết’ như vậy, người Việt cũng chỉ ra những lối sống nhỏ bé “Ăn xổi ở thì” như:

- “Gió chiều nào che chiều nấy”.

- “Nước đến chân mới nhảy”.

- “Vui đâu chầu đấy”.

- “Theo đóm ăn tàn”.

- “Giậu đổ bìm leo”.

- “Đắm đò giật mệt”.

Về mặt sinh học, chúng ta đều biết, những loài sinh vật thấp kém thì nhiệt độ cơ thể thay đổi theo nhiệt độ môi trường. Nhưng tạo hoá tạo ra con người là một sinh vật cao cấp ưu đẳng khác hẳn các sinh vật khác ở chỗ, nhiệt độ cơ thể của con người không thay đổi theo nhiệt độ của tự nhiên. Cũng vậy, con người biết sống có chính kiến, lập trường, và lựa chọn thì hơn hẳn con người sống vật vờ được chỗ nào hay chỗ nấy. Sống được chăng hay chớ là lối sống vất vưởng của kẻ hèn kém, tha phương cầu thực, miếng ăn của mình phụ thuộc vào việc người khác cho mình nhiều hay ít. Như người Việt cũng xác định, hạng người đó chỉ có thể “theo đóm ăn tàn”, “theo voi hít bã mía”.

Trái lại người làm chủ thực sự phải là: có trồng cây có hái quả, “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”. Triết gia Hegel cho rằng, con người sống xứng đáng thực thụ, phải là người: Mình vẫn là mình trong hoàn cảnh chống lại mình và hoàn cảnh càng bất lợi với mình thì càng chứng tỏ ý chí làm người kiên định của mình. Người Việt chẳng nói đó thôi:

Lửa thử vàng
Gian nan thử sức.


21. Đầu voi đuôi chuột

“Đầu voi đuôi chuột” là câu nói lột tả rất mạnh mẽ cung cách làm ăn của người Việt, nghĩa là mở màn thì khởi sự công việc to như đầu voi, sau đó làm việc cứ thắt dần - thắt dần, bé dần - bé dần, thành ra cuối cùng bé như đuôi chuột.

Tại sao lại có hệ quả như vậy? Đây cũng là hệ quả tất yếu thôi, vì như chúng ta đã tìm hiểu người Việt sống rất yếu ớt trong việc suy lý và duy lý. Muốn làm bất cứ việc gì ở đời, thì bộ não phải sản sinh sự hướng đạo cho cơ thể, sau đó miệng phải ra mệnh lệnh, cuối cùng mới đến chân tay hành động. Như người Việt hiện đại có một câu tục ngữ: “Tư tưởng không thông vác bi đông không nổi”.

Nhưng tư tưởng cũng như chính kiến của người Việt nói chung là chưa có thói quen được đào luyện trở thành vạm vỡ, ngôn ngữ thì ấp úng thiếu mạch lạc “tháng ba cũng ừ tháng tư cũng gật”, vì thế hành động không có lý trí để minh định và gìn giữ chủ kiến, nên thành ra cứ làm kiểu “đầu to đít bé”, thậm chí làm qua loa đại khái, tồi tệ hơn là làm kiểu “trăm voi không được bát nước sáo”.

Về chuyện thiếu lý trí dẫn công việc từ to thành nhỏ, người Việt vẫn hay kể câu chuyện, đẽo cày giữa đường. Ông kia, mang khúc gỗ ra bên lề đường đẽo cày. Thế là người đi xuôi nhận xét một câu, vì không có chủ kiến ông liền đẽo theo cách họ bày; người đi ngược lại nói cách khác, vì không tự tin vào mình ông cũng liền đẽo theo ý họ. Rút cục ông cứ đẽo mãi, đẽo mãi, khúc gỗ nhỏ hơn cả một cái thìa. Thế là, ông đành đẽo nó thành một chiếc chìa vôi, chỉ to hơn chiếc tăm một tẹo, dùng cho các bà ngoáy vôi ăn trầu.

Cũng chuyện tự tin vào lý trí của mình, người phương Tây có chuyện. Chàng hoạ sĩ kia vẽ một ông tướng, và đem bày bán ở giữa chợ. Liền có một người đi qua bảo, đôi giầy không giống lắm. Chàng hoạ sĩ hỏi ra, mới biết người nhận xét đó làm nghề đóng giầy. Chàng liền cám ơn ông thợ đóng giầy rất thành tâm, và sau đó lấy bút vẽ sửa lại đôi giầy. Khi chàng hoạ sĩ đã vẽ lại xong đôi giầy, thì ông đóng giầy kia liền lên giọng nói, còn chỗ này chưa giống, chỗ kia vẫn sai. Chàng hoạ sĩ liền bảo với ông thợ giầy: “Thưa ông, ông đã đi quá xa đôi giầy của mình rồi đó”.

Đấy, khi có lý trí và vững chuyên môn thì người ta biết nghe đến đâu và làm đến đâu. So sánh thì thấy, do thiếu yếu tố duy lý trong mọi lĩnh vực của đời sống, người Việt thường làm các việc từ “đầu voi” thành đuôi chuột.

Khi nói người Việt còn yếu kém về lý trí, chúng ta chớ nên khoác lấy mặc cảm tự ái. Ngay nước Nhật rất giầu, rất tiên tiến về khoa học kia trước Đại chiến thế giới hai, vào thời “Minh Trị duy tân” (1852 - 1912), người Nhật cũng đã xác định, nước Nhật muốn phát triển hùng cường, thì điều quan trọng nhất phải phát triển sự duy lý và ý thức khoa học. Nghệ thuật bị đặt xuống hàng thứ yếu.


Ngoại tuyến
   
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Người Việt tự ngắm mình
Gửi bàiĐã gửi: 27 Tháng 9 2009 23:18 
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 27 Tháng 8 2009 17:33
Bài viết: 60
22. Thể hiện nhiều, thực hiện kém

Trước năm 1975, khi đất nước chưa thống nhất, ở phía Nam có lời một bài hát như sau:

“Bao nhiêu kiểu mới đưa sang
Việt Nam mà bắt chước
Còn hơn, hơn nước ngoài”.

Tại sao chúng ta lại hay bắt chước? Câu trả lời vẫn là: Chúng ta thiếu khả năng phát minh của lý trí, nên đành phải dùng trực cảm để bắt chước.

Vậy tại sao chúng ta thích thể hiện? Vì thể hiện là cách bày tỏ những thể thức bề ngoài, nó tương tự như cách nhìn người khác mà bắt chước nên chúng ta thường chuộng kiểu này. Đơn giản như các gánh hát hiện đại chẳng hạn, người phương Tây, làm gì đều có chức năng thực hiện từ trong xương tuỷ, họ la réo, hú, gầm khi hát để bộc lộ những cảm xúc của mình. Câu nào cần đau khổ thì ca sĩ phải cất cao giọng hát như muốn vỡ tim. Trái lại, người Việt thường quan niệm, ca nhạc là loại hình giải trí, nên chớ có hát mà đau đầu nên hát chùng thôi, thế là có biết bao gánh hát, tập hát những bài của Tây, nhưng lại hạ giọng chùng xuống. Than ôi, điệu bộ thì bắt chước người ta nhưng tâm hồn của người lên cao trào thì ta lại đòi thư giãn, thành ra nhảy múa thì loạn xạ vẻ hùng mạnh. Nhưng lời cất lên lại ẽo uột “nửa dơi nửa chuột”, nom đúng là cách “tâm hồn ăn cỗ trên chân tay”.

Hay như nạn đua xe máy chẳng hạn, ở Tây có những đua trường để người ta có thể thoả mái xưng hùng - xưng bá - “xưng mạo hiểm”. Đằng này ở ta, nhiều thanh niên lại diễn trò thao diễn ngay trên đường phố, làm khổ nhiều người.

Nhưng đề mục này đặc biệt có liên quan đến giới tri thức văn học nước nhà. Xứ ta thấy nghe nói làm thơ là “thiên sứ của lời”, thế là cũng đua nhau làm thơ. Nhưng than ôi kể từ thời Thơ Đường đến nay đã trên 1500 năm, người Trung Hoa cũng “bỏ xó” Thơ Đường lâu rồi, ở ta vẫn cứ hà hít là “hay lắm”. Nhưng họ đâu có quan niệm cái hay của nó nằm ở nghệ thuật, mà là ở chỗ nó chỉ có vài câu quá thích hợp với sự lười nhác bé bỏng của mình.

Đến khi, thế giới có chuyện ngắn mi-ni, thì cũng đua nhau viết, vì chuyện mi-ni rất hợp tạng với kẻ vừa yếu vừa lười. Đã thế còn đua nhau phát triển truyện ngắn không có cốt chuyện. Sao người ta không từng biết, triết gia Aristote, đã coi cốt chuyện (story) là yếu tố đầu tiên của văn chương, cũng như người Việt xưa nay đều quan niệm “có tích mới dịch nên trò”. Thực ra người ta thích truyện không cốt chuyện vì nó phù hợp với thể tạng tuỳ tiện, lười biếng của người ta.

Rồi chưa viết nổi tiểu thuyết, thấy thế giới nói “tiểu thuyết đã chết”, thế là ào ào nói theo: Tiểu thuyết đã chết! Rồi thấy thế giới bảo: “phản lý trí”, thì cũng đua nhau nói phản lý trí. Than ôi, chúng ta đã từng có nhiều lý tri đâu mà đòi phản nó. Như các nhà mỹ học nói: “Chỉ khi nào ta dứt áo rời khỏi nhà thì mới có lúc tận hưởng giờ phút trở về”. Thiếu lý trí, chỉ sống duy cảm, vậy mà nghe người khác nói “phản lý trí” thì cũng ùa theo nói: Lý trí đã chết, và:

Lý luận thì mầu xám
Cây đời mãi mãi xanh tươi.

Thực ra nhiều người nói thế, để khoả lấp, để xuê xoa, để nuốt chửng vấn đề người ta chưa từng sống lý trí. Triết gia Socrate cho rằng: “Không có một biến cố nào tai hại cho một con người cho bằng nó thù ghét lý luận”. Thù ghét lý luận là thù ghét cái cao nhất của nhận thức. Chính điều này cũng đã được thể hiện qua các sinh hoạt chính trị cao nhất của nước nhà rằng: Các phương tiện thông tin đại chúng, báo chí, và các cơ quan ngôn luận, cần phải nêu cao, tăng cường hơn về lý luận.

Thấy người ta diễn kịch, mình cũng diễn kịch, thấy người ta đóng phim mình cũng đóng phim. Nhưng người ta đóng như thật, còn ta đóng phim sợ người xem khi xem không biết mình là diễn viêm, nên đóng phải “lộ đuôi” là đang diễn. Than ôi!

Thấy người ta, viết thơ, viết truyện ngắn, viết tiểu thuyết thì cũng bắt chước, nhưng than ôi, người ta thể hiện những nội dung sống trong tác phẩm của mình, còn ta ngoáy, bới, ám thị hết trò nọ đến trò kia. Mong được nổi tiếng như “diễn viên” nhà thơ, nhà văn.

Thấy người ta đỗ tiến sĩ ngành nọ ngành kia, ta cũng đua nhau làm bằng tiến sĩ. Làm tiến sĩ mà không viết nổi một tiểu luận về chuyên ngành mình nghiên cứu thì làm làm gì?

Thấy người ta làm lý luận, thì ta không chịu làm, vì chỉ quen “dễ làm khó bỏ”. Thêm nữa làm lý luận phê bình thì chỉ khen người này chê người khác, khen hay chê cũng chỉ cho người, như vậy lòng ích kỷ của ta không được mân mê nắn bóp nên không làm. Nhưng không làm, thì không phải kẻ khác được làm, mà phải bị ra sức chê bai đố kỵ: sao chẳng có ai chịu làm lý luận phê bình? Không có nước làm sao có cá? Mỗi cá nhân còn không trau dồi trong đầu lý trí cho phê bình, thì làm sao có thể nói chẳng có con cá voi phê bình nào bơi cả? Phê bình là gì? Là phán xét, là phân đẳng cấp, kẻ cao - người thấp. Nhưng tự thân cảm thấy mình thấp bé, cũng tất nhiên thôi vì con người không trau dồi lý trí làm sao lớn được, nên loại bỏ lý luận phê bình ra khỏi đời sống văn nghệ, để ù xọe, ai cũng như ai, “xấu đều còn hơn tốt lỏi”, cho dễ chui lủi, và dễ sống.

Ngay cả thất nghiệp cũng có nhiều trình độ thất nghiệp. Thất nghiệp ở những nước công nghệ cao, là những công nhân đã được đào tạo tay nghề, khi bị thất nghiệp có thể vẫn ngồi đợi ngoài dây chuyền sản xuất, thấy ai bị đau ốm thì có thể vào thay thế. Tóm lại, đó là những người có “nghiệp” mà tạm thời “thất”. Nhưng thất nghiệp ở xứ ta, hầu hết là những người chưa qua đào tạo, chưa biết làm gì, nên chưa có cả “nghiệp” để mà “thất”.

Đó là thất nghiệp bàn về nội dung cũng như hình thức, cũng là bàn cái thực hiện bên trong và cái thể hiện ra ngoài. Nhìn một người cầm cuốc trong lao động đơn giản ta khả dĩ thể hiện ngay giống như anh ta. Nhưng nhìn một người cầm vô lăng ô tô, thì sự thể hiện không hề đơn giản chút nào, không thể cứ cầm vô lăng xoay qua xoay lại, vớ vẩn chạm phải chìa khoá khởi động, xe lao đi, toi mạng như không. Cũng vậy nhìn người ta cầm bút, thể hiện cầm lấy ngay cũng dễ, nhưng để thực hiện viết văn, làm thơ, hay phát minh những công trình thì thiên khó vạn nan, người cầm bút phải chất chứa thiên kinh vạn quyển trong đầu. Thế vẫn chưa đủ, người Pháp nói: “Cái đầu biết hành động quý giá hơn cái đầu chỉ đầy ắp chữ” (Mieux vaut une tête bien faire qu’une tête bien pleine).

Sự thể hiện và thực hiện khác nhau như hoa nhựa và hoa thật. Hoa nhựa có mọi thứ như hoa thật có và giống hệt mẽ bề ngoài, chỉ tội không có sức sống ở bên trong và hoa thật có sức sống, có hạt mầm ở trong, nó có thể lên mầm một cây hoa mới lớn gấp tỷ lần, cây ấy lại tiếp tục ra hạt mãi mãi không ngừng. Vậy thì nhìn nhà văn, nhà thơ (Các nhà khoa học nữa), thì thấy dù nổi tiếng đến mấy cũng chỉ viết được vài chục truyện ngắn, mấy tập thơ mỏng đến mức con kiến nằm vắt ngang gáy bìa không đủ chỗ, hay viết được một cuốn tiểu thuyết “một lần vắt kiệt thành bã”, còn các cây bút trẻ thì hầu như không có ai có được bóng cây toả lan sau tuổi ba mươi, khiến mọi người phải nghĩ đây là những măng non chặt sớm đòi đóng nhãn xuất khẩu nên không lớn thành tre được, hay là hạt giống đem đồ thành xôi - làm oản để ăn ngay nên không thể gieo hạt, hoặc những bông hoa chưa kịp nở đã tàn... Như vậy đủ thấy các cây bút ở ta phần đông mới chỉ viết ở mức thể hiện, mà chưa đạt đến tầm “thực hiện”.

Viết văn phải thực hiện những gì? Tri thức sống! Khát vọng sống! Thực tại sống! Lý tưởng sống! Nhân cách sống! Phẩm chất sống! Nhưng các nhà văn xứ ta hầu hết mới chỉ bày tỏ một ít hiện thực sống và ao ước sống. Ao ước chưa phải là khát vọng! Mà mới giống người thuyền chài lười biếng thả lưới lại nằm ao nước có con chim rụng cánh xuống thuyền mình, thế là chỉ cần nướng lên ăn. Có không ít nhà thơ, viết được vài bài thơ ngắn trong tầm trang giấy, mà đã ước ao biết đâu lúc nào trúng số độc đắc, giải Nobel sẽ rơi vào giữa những vần thơ tinh lọc của mình. Hay có nhà văn, viết được một cuốn sách, mà hàng năm đến kỳ xét giải Nobel lại cùng bầu bạn uống rượu chờ đợi biết đâu đó ban giám khảo đã bỏ phiếu cho ta. Thật là hy vọng hão huyền. Các giải thưởng lớn không bao giờ người ta chỉ bỏ phiếu cách cầu may, mà người ta phải xét duyệt quá trình lao động nghệ thuật của nhà văn đó. Nhưng mới chỉ có một cuốn sách làm sao thấy được quá trình? Nhiều cây bút “thấp bé nhẹ cân” sở trường chơi đồ hàng thường biện hộ: “Hay cốt gì dài”.

Tại sao người ta không biết, không lớn sao thành đại dương. Người Việt vẫn nói “Vét nồi ba mươi cũng đầy niêu mốt” hay:

Sống lâu mới biết đêm dài
Ở lâu mới biết lòng người có nhân.

Trong một khoảnh khắc, trong vài vần thơ để làm một cú thăng hoa dễ lắm, nhưng mọi sự đồ sộ, vĩ đại ở đời đều được hình thành nhờ cấu trúc. Một phân tử ADN của sự sống thôi đã là một cấu trúc vô cùng phức tạp. Nhưng chớ có biện hộ, nhỏ như một phân tử còn sắp đặt kỳ diệu đó thôi, mà các phân tử ADN, sau khi đã tự sắp đặt mình, đã sắp đặt cả một vũ trụ sự sống bát ngát mênh mông.

Những điều lý giải trên không thể nói chơi. Mà là, chưa nói đến chúng ta chưa có những cây bút vĩ đại, chỉ cần đòi hỏi chúng ta có những cây bút chuyên nghiệp, nhà nghiên cứu chuyên nghiệp thôi, đã vô cùng khó rồi. Thậm chí là một sự kiện hi hữu đến mức gần như bất khả.

Người Việt nói: “Một nghề cho chín, hơn chín mười nghề”, hay “Sinh nghề tử nghiệp”, còn người Anh nói: “Đá lăn không lên rêu”. Sự nghiệp văn chương nghệ thuật hay khoa học là một sự nghiệp lớn giành cả đời hành hương chưa chắc đã đi trọn con đường của cá nhân vạch ra để tiệm cận cùng nhân loại, vậy mà lại không chuyên nghiệp, bạ chỗ nào tiện rẽ ngang chỗ đấy, vui đâu chầu đấy, thỉnh thoảng khi rỗi mới đi vào trục lộ của mình, thì sẽ thắng tiến được bao nhiều?

Bởi chính thế mà chúng ta mới chỉ có những nhà văn nghiệp dư, nhà thơ nghiệp dư, nhà khoa học nghiệp dư... Tất cả mới ở mức lo thể hiện cho giống người, mà chưa biết thực hiện để vận động chức năng đích thực cho cuộc đời sống thật.
Nguồn: Chungta.com


Ngoại tuyến
   
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Người Việt tự ngắm mình
Gửi bàiĐã gửi: 21 Tháng 12 2009 12:55 
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 26 Tháng 8 2009 23:03
Bài viết: 1848
Đến từ: Hà nội
Đây là cuốn sách khá hay ! Nhà cô cũng công phu.
Nhà cháu nghĩ , anh em chùa Láng ta ai cũng nên ít nhất đọc một lần để biết thế nào là văn hóa dân tộc, có tí so sánh với Tây phương. Nhà cháu đọc chửa kỹ dưng thấy vzụ so sánh nì khí khập khiễng, vzẫn có cảm giác chả phải ta dòm ta mờ theo kiểu Tây dòm Ta...

Từ từ rùi "bình lựng" tiếp ! Bi chừ cháu xin "dọn vườn" tí tị.

Trong sách có "trích cú" rằng :
"Miệng kẻ sang có gang có thép
Đồ kẻ khó vừa nhọ vừa thâm
"

Nhà cháu thấy từ "kẻ" nì mần hẹp ý nghĩa của "" ca dao đó. Đứng ở góc độ lịch sử và hoàn cảnh xã hội chưa được phù hợp lắm.

Theo dư nhà cháu hiểu thì từ xưa thì trong "" đó, trong câu dưới dùng là "nhà" mờ hổng phải là từ "kẻ".
"Đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm"
Từ "nhà" này nó mới đại diện cho một tầng lớp "nhọ, thâm" trong xã hội bấy giờ, và biểu thị một số đông đối lập với số ít (kẻ) sang trọng trong xã hội. Cả về tu từ cũng như quan hệ xã hội, dùng từ "nhà" mới lột tả hết sự "đăng đối" với từ "kẻ" ở "" trên.

Nhà cháu "đánh trống qua cửa nhà sấm" tí ti ! ;) :D :D :lol:

_________________
"...Say say tỉnh tỉnh thành say thật
Tỉnh tỉnh say say rõ tỉnh vờ..."


Ngoại tuyến
   
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Người Việt tự ngắm mình
Gửi bàiĐã gửi: 21 Tháng 12 2009 13:13 
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 24 Tháng 9 2009 15:40
Bài viết: 173
Đến từ: việt nam
Xứ Đoài nhà cháu ! đã viết:
Đây là cuốn sách khá hay ! Nhà cô cũng công phu.
Nhà cháu nghĩ , anh em chùa Láng ta ai cũng nên ít nhất đọc một lần để biết thế nào là văn hóa dân tộc, có tí so sánh với Tây phương. Nhà cháu đọc chửa kỹ dưng thấy vzụ so sánh nì khí khập khiễng, vzẫn có cảm giác chả phải ta dòm ta mờ theo kiểu Tây dòm Ta...

Từ từ rùi "bình lựng" tiếp ! Bi chừ cháu xin "dọn vườn" tí tị.

Trong sách có "trích cú" rằng :
"Miệng kẻ sang có gang có thép
Đồ kẻ khó vừa nhọ vừa thâm
"

Nhà cháu thấy từ "kẻ" nì mần hẹp ý nghĩa của "" ca dao đó. Đứng ở góc độ lịch sử và hoàn cảnh xã hội chưa được phù hợp lắm.

Theo dư nhà cháu hiểu thì từ xưa thì trong "" đó, trong câu dưới dùng là "nhà" mờ hổng phải là từ "kẻ".
"Đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm"
Từ "nhà" này nó mới đại diện cho một tầng lớp "nhọ, thâm" trong xã hội bấy giờ, và biểu thị một số đông đối lập với số ít (kẻ) sang trọng trong xã hội. Cả về tu từ cũng như quan hệ xã hội, dùng từ "nhà" mới lột tả hết sự "đăng đối" với từ "kẻ" ở "" trên.

Nhà cháu "đánh trống qua cửa nhà sấm" tí ti ! ;) :D :D :lol:


He he... Bài này nhà cháu cũng đã đọc qua và thấy rằng người viết cũng nhìn nhận vấn đề một cách hơi tiêu cực. Do thời thế nên con người ta đôi khi phải làm những việc không muốn, trong khi đó xã hội vẫn có nhiều người tốt và có ý thức.


Ngoại tuyến
   
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Người Việt tự ngắm mình
Gửi bàiĐã gửi: 18 Tháng 8 2010 09:45 
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 25 Tháng 8 2009 01:41
Bài viết: 276
ngocanhduong đã viết:
...Theo nhiều ý kiến nghiên cứu về tôn giáo và xã hội, thì người Việt cùng lúc áp dụng cả ba thứ đạo. Nhưng trước hết, vì trình độ lý trí có hạn, nên người Việt đã nhầm cả ba lý thuyết trên vào Đạo. Thực ra, chỉ có Đạo Phật mới là Đạo, vì ở đó Đức Phật có ý đưa cuộc sống thoát trần hướng về cõi Niết Bàn. Còn Nho giáo với chủ trương “Hiếu, Đễ, Trung, Thứ, Tu, Tề, Trị, Bình” (Hiếu với mẹ cha, Đễ với huynh đệ, Trung với Vua, khoan Thứ với mọi người, Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ) là lý thuyết của đời sống trần tục không thể gọi là Đạo... Lão giáo của Lão Tử, với “Vô vi”, cũng chỉ là thái độ hành động ở đời, cũng không thể là Đạo. Nhưng sao người Việt cố tình nhầm cả Nho giáo, Lão giáo và o Đạo?...



Bác này viết khá hay, nhưng cái đoạn bên trên thì cần xem lại, mang nặng chủ quan quá! :lol:

_________________
Đừng vội tin, cũng đừng vội phủ nhận!
http://vn.myblog.yahoo.com/tinhkhicong


Ngoại tuyến
   
 
Hiển thị bài viết cách đây:  Sắp xếp theo  
Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 19 bài viết ]  Chuyển đến trang Trang vừa xem  1, 2

Múi giờ UTC + 7 Giờ


 Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào trực tuyến.1 khách.


Bạn không thể tạo chủ đề mới.
Bạn không thể trả lời bài viết.
Bạn không thể sửa những bài viết của mình.
Bạn không thể xóa những bài viết của mình.
Bạn không thể gửi tập tin đính kèm.

Tìm với từ khóa:
Chuyển đến:  
 
cron