Hôm nay, 11 Tháng 12 2018 21:19

Múi giờ UTC + 7 Giờ




Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 5 bài viết ] 
Người gửi Nội dung
 Tiêu đề bài viết: Cách Tịnh chỉ hơi thở - Nhập Tứ thiền - Đắc đạo & giải thoát
Gửi bàiĐã gửi: 22 Tháng 10 2018 00:08 
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 25 Tháng 8 2009 01:41
Bài viết: 276
Tập Ngưng Hơi Thở
(Bài viết dưới đây do Trưởng Lão Thích Thông Lạc - một bậc chân tu thực chứng viết ra)

Hỏi: Kính thưa Thầy, hiện nay con vẫn tiếp tục theo dõi hơi thở, an trú hơi thở vào phần dưới bụng, gom tâm vào hơi thở ở một chỗ, thì hơi thở chậm lại và các tâm hành dừng hẳn, nếu tác ý muốn dừng hơi thở hoặc điều khiển hơi thở theo ý mình nhanh hay chậm tùy ý.

Nhưng con muốn cho hơi thở lắng sâu và dừng hẳn, tác ý như vậy thì hơi thở dừng, nhưng được một lúc thì hơi thở bị nén nên thở ra dồn dập, vậy con phải làm sao để hơi thở và tâm hành dừng hẳn. Mong Thầy chỉ dạy cho con để con nương đó mà tiến tu? (một Tu Sĩ ở Đà Lạt thưa hỏi)


Thầy đáp: Qua sự trình bày tu về hơi thở, thì thầy tu theo pháp tùy tức của Lục Diệu Pháp Môn, người chế ra pháp môn này là Trí Khải Đại Sư. Thầy trụ tâm dưới bụng đó là cách trụ tâm của thiền Minh Sát Tuệ, người khai sinh ra pháp này là thiền sư Miến Điện Mahasi.

Công phu tu tập của thầy nương vào hơi thở tập tỉnh thức theo cách tùy tức (tâm yên lặng) để tác ý điều khiển hơi thở chậm nhẹ và dừng để đi vào trạng thái tĩnh lặng sâu hơn.

Ở đây, thầy là người tu không có thiện hữu tri thức hướng dẫn, tự tập hợp các pháp của các nhà học giả tưởng giải ra tu tập. Nếu thầy tiếp tục tu thầy sẽ là nạn nhân của những pháp môn này:

1. Ức chế tâm để tâm hành dừng hẳn.
2. Ức chế hơi thở để thân hành dừng hẳn.
3. Để lắng sâu vào trạng thái tĩnh lặng để nhập định.

Muốn cho hơi thở và tâm hành dừng hẳn thì Thầy hãy tu "Tứ Thánh Định" còn thầy tu theo Lục Diệu Pháp Môn và thiền Minh Sát Tuệ thì không bao giờ tịnh chỉ hơi thở được tức là tịnh chỉ thân hành. Tịnh chỉ tầm tứ mới tịnh chỉ tâm hành được.

Người tu thiền thời nay tất cả đều tu sai là ức chế tâm để hết vọng tưởng. Nếu hết vọng tưởng có lợi ích gì cho quý thầy đâu? Hết vọng tưởng có làm chủ sanh, già, bệnh, chết hay không? Hết vọng tưởng ngồi như con cóc để làm gì? Khi xả ra thì tâm tham, sân, si còn đủ, danh lợi không từ, ăn uống phi thời không bỏ, thấy nữ sắc còn đắm chìm say mê, thì tu như vậy có ích lợi gì? Có giải thoát cái gì? Những loại thiền ức chế tâm mà ngày xưa Đức Phật đã tu tập thành công nhưng tìm trong các thiền ức chế tâm đó không có giải thoát, chỉ là một sự tu tập làm khổ thân tâm của mình (thành bịnh) và Ngài phải bỏ. Đã bao lần Ngài tập thành công nín thở bằng nhiều cách để mong đạt được giải thoát nhưng cuối cùng Ngài chẳng tìm được chỗ nín hơi thở có sự giải thoát. Bây giờ quý thầy lại bắt chước tu như vậy nữa hay sao?

Mục đích của thầy đi tu là tìm sự giải thoát làm chủ bốn cái khổ: Sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt luân hồi hay đi tìm chỗ hơi thở để trụ tâm và dừng tâm hành?

Nếu đi tìm hơi thở dừng và tâm hành dừng thì tự thân các thầy không có kinh nghiệm. Nhưng muốn tu tập làm chủ bốn cái khổ: sanh, già, bệnh, chết thì nên trở về tu tập và sống đúng pháp môn của Đức Phật:

1. Giới luật phải nghiêm túc.
2. Tu tập Tứ Chánh Cần
3. Tu tập chánh niệm tỉnh giác (thân hành niệm ngoại).
4. Định vô lậu (Tứ niệm xứ).
5. Định niệm hơi thở (thân hành niệm nội).

Phải dẹp bỏ pháp môn Tùy Tức của Trí Khải Đại Sư và pháp môn Minh sát tuệ của Mahasi.

Bắt đầu tu tập các loại định xả tâm "ly dục ly ác pháp" không được tu tập các pháp môn ức chế tâm và ức chế cơ.

Khi nào xả tâm sạch, ly dục ly ác pháp, tâm không còn tham, sân, si phiền não nữa thì lúc bấy giờ tâm thanh thản, an lạc thường quay vào thân, không có phóng dật ra ngoài, thì bây giờ nương hơi thở khéo tác ý theo đề mục hơi thở 1 để luyện tập Tứ Thần Túc trên Thân Hành Niệm Nội. Từ đề mục hơi thở 1 có kết quả rồi mới tu tập đến đề mục 2 rồi đề mục 3, cho đến đề mục thứ 19 (không được ức chế tâm để hết vọng tưởng). Khi tu tập như vậy tâm sẽ có đầy đủ nội lực, nhờ nội lực đó thầy mới hướng tâm mà chỉ nhẹ nhàng khéo tác ý "tịnh chỉ tầm tứ" (chỗ này ức chế hết vọng tưởng là sai, chỉ hướng tâm nhẹ nhàng tác ý để tầm tứ diệt) tâm nhập Nhị Thiền. Khi tâm đã nhập Nhị Thiền thì không có thấy hơi thở (hơi thở còn thở, chứ ở đây chưa phải tịnh chỉ hơi thở), tự nó thở chậm và nhẹ nhàng, ta không dụng cơ điều khiển. Nếu dụng cơ điều khiển cho hơi thở chậm nhẹ là sai, đó là dùng cơ ức chế tâm.

Muốn nhập Tam Thiền phải nương hơi thở trạng thái bất động tâm khéo tác ý nhẹ nhàng tịnh chỉ các trạng thái tưởng, tức là ly hỷ tưởng, có nghĩa là không còn một trạng thái hỷ tưởng nào cả. Nói tóm lại là phải ly 18 loại tưởng cho thật sạch. Lúc bấy giờ mới nhập Tam Thiền dễ dàng, không có khó khăn không có mệt nhọc.

Muốn nhập Tứ Thiền phải xuất Tam Thiền nương vào hơi thở trạng thái bất động tâm, khéo tác ý tịnh chỉ thọ, âm thanh và các hành trong thân, rồi sau đó mới hướng tâm tịnh chỉ hơi thở tức là thân hành dừng, nhập Tứ Thiền.

Khi nhập Tứ Thiền xong lúc bấy giờ tâm định trên thân, thân định trên tâm liền trở về trạng thái bất động tâm hướng tâm tức là dẫn tâm đến Tam Minh. Khi Tam Minh đã viên mãn thì ta đã làm chủ sanh tử và chấm dứt luân hồi, không còn tái sanh nữa.

Thầy xin tóm lại cho dễ hiểu: Khi tu tập như vậy tâm sẽ có đầy đủ nội lực, nhờ nội lực đó hướng tâm nhẹ nhàng khéo tác ý "ly dục ly ác pháp nhập sơ thiền". Khi tâm nhập sơ thiền xong liền xuất sơ thiền trở về trạng thái bất động tâm rồi hướng tâm nhập nhị thiền theo câu pháp hướng trong kinh Nikaya "Tâm diệt tầm tứ nhập nhị thiền". Khi tâm nhập nhị thiền xong thì xuất nhị thiền trở về trạng thái tâm bất động rồi hướng tâm nhẹ nhàng theo câu pháp hương trong kinh Nikaya "Tâm ly hỷ trú xả nhập tam thiền". Khi tâm nhập tam thiền xong thì xuất tam thiền trở về trạng thái tâm bất động, rồi hướng tâm nhẹ nhàng theo câu pháp hương trong kinh Nikaya "tâm xả lạc, xả khổ. xả niệm thanh tịnh nhập tứ thiền". Khi tâm nhập tứ thiền xong thì xả tứ thiền trở về trạng thái tâm bất động từ đó hướng tâm nhẹ nhàng đến tam minh một cách dễ dàng không có khó khăn. Nếu dụng cơ điều khiển hơi thở cho chậm nhẹ là sai, đó là dùng cơ ức chế tâm.

• Tu thiền định ức chế tâm chỉ một thời gian tâm sẽ bộc phát tham, sân, si, mạn, nghi rất mạnh. Ức chế tâm dễ sanh chiêm bao.
• Ức chế thân dễ sanh rối loạn cơ thể, rối loạn thần kinh, có thể sanh nhiều bịnh tật khó trị.
• Ức chế tâm, lắng sâu vào các trạng thái tĩnh lặng, dễ rơi vào các trạng thái định tưởng (tà định).

Đó là những loại định rất nguy hiểm cho người tu không có thiện hữu tri thức hướng dẫn.

Về Định Niệm Hơi Thở thì phải tu đúng như trong kinh Nguyên Thủy mà Đức Phật đã dạy: Định Niệm Hơi Thở không phải "Sổ Tức Quán", cũng không phải "Lục Diệu Pháp Môn". Không nên tu theo các pháp hơi thở do các Tổ biên soạn và ba hơi thở của thiền Yoga.

Pháp Định Niệm Hơi Thở của Phật là pháp xả tâm vi tế tạo thành nội lực Tứ Thần Túc. Nó là phương pháp Thân Hành Niệm Nội.

Quý vị nên lưu ý: "Quán ly tham tôi biết tôi hít vô. Quán ly tham tôi biết tôi thở ra", đó là pháp môn hơi thở xả tâm. Đừng lầm lạc, phải cảnh giác các pháp môn hơi thở của tà giáo ngoại đạo mà các Tổ đã bị ảnh hưởng quá nặng, do các Tổ bị ảnh hưởng giáo pháp của ngoại đạo, nên dần dần giáo pháp của Đức Phật bị che khuất bởi chiếc áo chắp vá kiến giải của ngoại đạo Đại Thừa, đến độ người ta không còn biết đến giáo pháp của Đức Phật là gì nữa.

Quý vị nên lưu ý: "Tịnh chỉ hơi thở" là một điều quan trọng, vì hơi thở là mạng sống của chúng ta. Nếu hơi thở dừng thì mạng sống này không còn. Cho nên con đường tu theo Đạo Phật làm chủ được sự sống chết, tức là làm chủ được hơi thở. Dừng hoặc phục hồi được hơi thở là phải có một đạo lực do tâm ly dục ly ác pháp điều khiển; phải có một cuộc sống đúng giới hạnh, không hề vi phạm những lỗi nhỏ nhặt nào, cũng không nên ăn uống ngủ nghỉ phi thời.

Vì thế, xưa Đức Phật dạy: "Thừa tự pháp, chứ không nên thừa tự thực phẩm", tức là Đức Phật muốn dạy chúng ta không nên tham ăn, ăn uống phải đúng pháp thì sự tu hành mới làm chủ được hơi thở.

Muốn tịnh chỉ hơi thở mà còn ăn uống phi thời, tâm còn dục và ác pháp thì tịnh chỉ hơi thở sẽ chỉ đi vào cõi chết. Nếu luyện tập hơi thở tưởng tức, nghĩa là thở bằng lỗ chân lông, thở bằng rốn thì không chết, nhưng không làm chủ được sự sống chết.

Khi tâm còn dục (còn thích ăn, uống, ngủ, nghỉ, danh lợi, tiền tài, vật chất, sắc đẹp và ác pháp tham, sân, si, mạn, nghi còn) nên nội hành cơ thể còn hoạt động rất mạnh, lượng oxy đòi hỏi phải được đầy đủ. Thầy đã dùng pháp hướng tâm và điều khiển hơi thở để tịnh chỉ hơi thở, nhưng hơi thở chỉ tịnh chỉ được một lúc mà không kéo dài ra và không dừng hẳn được. Điều đó chứng tỏ thân tâm thầy chưa thanh tịnh (chưa ly dục ly ác pháp sạch), cơ thể còn hoạt động như cơ thể người phàm phu. Vì vậy khi hơi thở bị nén, cơ thể muốn bảo toàn sự sống nên phản ứng một cách rất tự nhiên, hơi thở dồn dập để cung cấp đủ khí oxy trở lại.

Ở Quy Nhơn có một bác sĩ tu hơi thở và tịnh chỉ hơi thở bằng cách cố nín thở và kéo dài thời gian ra nên ông đã chết một cách đáng thương. Giải thoát đâu không thấy mà chết một cách oan uổng. May mắn thầy viết thư thưa hỏi, nếu không thì:

1. Cơ thể sanh bệnh, đứt mạch máu phổi, khạc ra máu (như Minh Tông).
2. Chết một cách thê thảm (như ông bác sĩ ở Quy Nhơn).
Trong kinh sách Nguyên Thủy gọi Bốn Thiền là "Tứ Thánh Định", tức là thiền định của bậc thánh. Chỉ có bốn thiền này mới tịnh chỉ được hơi thở nhưng phải sống và tu tập đúng theo đường lối Giới, Định, Tuệ, có nghĩa là:

1. Sống như Thánh (giới luật phạm hạnh đầy đủ).
2. Tu tập rèn luyện pháp hướng tâm "Tứ Chánh Cần", tức là ngăn ác và diệt ác pháp.

Các thầy chỉ biết ngồi thiền ức chế tâm cho hết vọng tưởng mà không thấy "Tứ Chánh Cần" là "Định Tư Cụ" của Đạo Phật để nhập các loại thiền và các loại định.

Muốn nhập định tịnh chỉ tâm hành và thân hành, mà không tu tập "Tứ Chánh Cần" thì không làm sao tịnh chỉ được hơi thở.
Muốn nhập định làm chủ sanh, già bệnh, chết mà không tu "Tứ Chánh Cần" thì không làm sao làm chủ được?

Ngoài pháp "Tứ Chánh Cần" mà tìm thiền định, thì thiền định đó là tà thiền, tà định của ngoại đạo, không thể làm chủ được sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt luân hồi.

Thân tâm chưa thanh tịnh mà muốn nhập định thì định đó là định giết người chưa chôn. Thiền định thời nay tu mãi biến thành pháp dưỡng sinh, ngừa bịnh chẳng có ích lợi gì mà còn phí sức vô ích.
Muốn tu hành làm chủ sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt luân hồi thì thầy hãy nghiên cứu lại kinh sách Nguyên Thủy, cách sống như thế nào? Cách tu tập như thế nào? Pháp nào tu trước, pháp nào tu sau. Khi thông suốt, chừng đó mới bắt đầu thực hành tu tập.

Nhưng thầy nên lưu ý "Giới Luật" là pháp môn đầu tiên của Tam Vô Lậu học, phải áp dụng sống cho đúng giới luật thì con đường tu của thầy mới được an ổn và đúng chánh pháp.

_________________
Đừng vội tin, cũng đừng vội phủ nhận!
http://vn.myblog.yahoo.com/tinhkhicong


Ngoại tuyến
   
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Cách Tịnh chỉ hơi thở - Nhập Tứ thiền - Đắc đạo & giải thoát
Gửi bàiĐã gửi: 22 Tháng 10 2018 00:14 
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 25 Tháng 8 2009 01:41
Bài viết: 276
TRƯỞNG LÃO THÔNG LẠC TU RA SAO?

Thưa Thầy, cho con hỏi thêm. Vì lý do gì Thầy cũng theo kinh sách Nguyên Thủy nhưng Thầy lại tu chứng được. Nó khác ở chỗ nào?

Thầy xuất thân từ kinh sách giáo điển của Đại Thừa. Nhưng khi tu thấy mình không hết tham, sân, si, do đó coi như cuộc đời mình không còn tin tưởng gì hết rồi. Coi như nó bi quan quá độ rồi. Tu hết sức mình trong10 năm, đâu phải là ít đâu, tới cái năm thứ 9 đó, thấy không có kết quả, toàn là nhập vào thứ tưởng không, lúc bấy giờ coi như nó nản quá rồi. Cho nên Thầy muốn chết. Có nhiều lúc Thầy nghĩ nếu mẹ Thầy mà đã chết thì Thầy vào rừng tự tử chứ còn gì nữa mà tu, còn sống làm gì đây nữa, tu mà như vậy thì tu mà làm gì đây. Nhưng trong khi mẹ Thầy còn, cho nên vì vậy Thầy ngồi trong thất chơi vậy, rồi mới lấy kinh sách của Hòa thượng Minh Châu. Bởi vì Thầy lúc trước Thầy học ở Vạn Hạnh mà, cho nên lấy những bộ sách cũ của Hòa thượng Minh Châu ra đọc chơi vậy thôi.

Đại Thừa, Tối Thượng Thừa tu còn không ra gì mà thứ Tiểu Thừa này (sách của Hòa thượng Minh Châu là của Nguyên Thủy Tiểu Thừa) thì ra cái móc gì. Tối Thượng Thừa, Đại Thừa mà tu không ra gì thì Tiểu Thừa ra cái thứ gì - trong đầu óc Thầy nghĩ như vậy, cho nên Thầy chỉ đọc chơi vậy thôi. Nhưng mà Thầy đọc thấy cái Pháp Như Lý Tác Ý nói tác ý một tướng khác thì tướng kia sẽ bị diệt đi cho nên Thầy cũng làm thử chơi vậy thôi. Thầy bây giờ rảnh rang, đâu còn ham danh, ham lợi gì nữa đâu. Thầy nỗ lực tu đã xả hết danh lợi rồi, đâu còn ham muốn gì nữa đâu, cho nên ngồi chơi trong thất mà cứ tác ý thử chơi thôi: "Tâm tham sân si ly cho hết!. Tâm như cục đất, ly dục ly ác pháp cho hết, ly hết cho tao!" - cứ nói chơi vậy thôi chứ, bởi vì nghe trong kinh nói vậy, mình bắt chước mình nói chơi.

Nhưng mà lần lượt rồi thấy nó không thèm ăn, chớ không phải do quán thực phẩm bất tịnh đâu. Bây giờ Mẹ Thầy cho cái gì ngon cũng ăn nhưng không thấy thèm. Còn hồi đó thấy thèm lắm. Ăn cơm với muối cũng muốn có chút nước tương hòa vào, chớ không phải không đâu. Tự nó nó thèm nó muốn kiếm cái gì ngon hơn. Thầy nói thậm chí như là ăn cơm với muối không, nó còn muốn đi kiếm trái ớt dầm vô ăn cho cay cay cho nó ngon, cho nó đỡ đỡ chút. Đó là cái dục của mình nó rõ ràng lắm… Mà bây giờ Thầy thấy ăn cơm với muối mà không cần ớt nữa mà vẫn thấy ngon rồi. Như vậy là tác ý có hiệu quả! Thôi mình ráng tác ý nữa. Tác ý riết nó hết tham, sân, si. Tâm nó thanh tịnh, mấy con à. Mà chỉ có Pháp Như Lý Tác Ý thôi. Nhưng các con nên nhớ nhờ Thầy có quá trình tu tập xả tâm của mình rất ghê gớm chứ không phải ít. Lúc Thầy ở trên Hòn Sơn ăn chỉ có rau thôi mà sống như bò ăn cỏ rồi thì còn gì mà ham. Nó đã sạch hết tham muốn rồi, vậy mà cái tham ở trong lòng mình nó còn tham. Sắc dục nó vẫn còn tham chứ chưa phải là hết đâu. Nó ghê lắm chứ không phải thường đâu.

Cho nên vì vậy mà tối ngày Thầy cứ ngồi chơi nói láp ráp láp ráp giống như thằng điên vậy. Thật sự ra Thầy cứ tác ý: "Tâm như cục đất, ly tham sân si hết đi", "Tham sân si là ác pháp, không có được ở trong tâm ta nữa". Cứ nói vậy rồi ngồi chơi, một chút nhắc nữa rồi ngồi chơi. Mình chỉ nhắc vậy mà sao thấy tâm lại biết cái thân của mình chứ, nó quay vô nó biết thân. Cuối cùng tâm quay vô toàn bộ, không cần nhắc nữa mà bây giờ tâm nằm yên ở trên thân, nó biết thân. Kỳ ta! Không tu tập gì mà sao tâm nó quay vô, không bị tưởng nữa. Ôi! Vậy sướng quá hả?

Nhưng mà không ngờ tâm lại có Thần lực, mấy con! Thầy có Thần lực đó chứ Thầy chưa biết mình có đâu con, chưa biết sử dụng nó nữa. Lúc bấy giờ Thầy chưa biết sử dụng Thần lực để trị bệnh cho Thầy, không biết trị bệnh mình bằng Thần lực nữa, bởi vì mình đâu có nghĩ rằng pháp của Phật làm chủ sinh già bệnh chết đâu. Bởi vì Đại Thừa nó biểu mình kiến tánh thành Phật thôi, chứ nó có nói chuyện làm chủ Sinh Già Bệnh Chết đâu. Cho nên Thầy đâu có biết. Bệnh Thầy khạc ra máu mà, Thầy phải đi cô Phúc Hương mà đi hoài đâu có hết đâu, ở đây có thầy Chơn Tịnh biết. Nhưng mà cuối cùng, các con biết không, tới chừng Thầy biết cái pháp Như Lý Tác Ý, Thầy nạt nó một tiếng, rồi sao nó hết trơn! Cho nên từ đó về sau Thầy biết đúng là Pháp của Phật tuyệt vời. Cho nên Thầy mới dạy các con đưa cánh tay ra, đưa cánh tay vô để đẩy lui bệnh. Mà Thầy dạy ai nó cũng có hiệu quả chớ. Từ cái chỗ bản thân của mình mà mình trị được, đẩy lui được bệnh, rồi mình nhập Tứ thiền, mình tịnh chỉ hơi thở. À như vậy Tứ thiền tịnh chỉ hơi thở là làm chủ sự sống chết của mình rồi.

Từ đó Thầy biết rất rõ ràng cách sử dụng Tam minh này kia. Cho nên vấn đề của Thầy tu tập theo Đạo Phật không có người dạy, do Thầy tu mà nó lần lượt lần lượt sáng dần lên. May là Thầy trở về kinh Nguyên Thủy, Thầy đọc và tu tập thử chơi thôi, mà cái duyên tới lúc nó đạt.

Cũng như ông Phật gần chết rồi, ông mới nằm suy nghĩ nếu ta mạnh khỏe được, ta ly dục ly ác pháp thì con đường này có lẽ là giải thoát. Ông nghĩ vậy thôi chứ cũng chưa chắc đâu. Ông nghĩ nếu bây giờ mình ăn thô thực trở lại thì chắc chắn mình khỏe được để mà tu chắc được. Khi đó ông ăn trở lại đầy đủ, không ăn ít nữa. Cơ thể ông khỏe lại thì năm anh em Kiều Trần Như nói ông này lợi dưỡng rồi, không chơi. Mấy ông không chơi thì thôi, tôi đi kiếm chỗ khác tôi ở một mình cho yên. Cho nên Đức Phật mới đi tìm đến cội Bồ Đề. Sau khi tìm được cội Bồ Đề rồi Phật mới ở đó li dục li ác pháp, cũng như Thầy ngồi li dục li ác pháp vậy đó, không có gì đâu. Phật gần sắp chết rồi mới li dục li ác pháp, và trong 49 ngày thì thành công, còn Thầy phải 6 tháng mới thành công.

Ông Phật cũng vô tình, tưởng nghĩ vậy thôi. Còn Thầy thì thấy câu Phật nói: "Tác ý một tướng khác thì tướng kia bị diệt". Thầy nghĩ mình không ham tham sân si thì mình tác ý đừng có tham sân si nữa, may ra chắc nó hết tham sân si. Nhưng mà mấy con bắt chước Thầy thì làm không được, tại vì quá trình của mấy con không phải như Thầy. Bây giờ cho các con ăn chỉ có rau thôi chắc chắn mấy con rên, ôm bụng mà rên chứ ở đó, phải không? Đâu phải dễ đâu. Cho nên trong quá trình tu tập, thực sự cái khổ hạnh cũng là cái lợi ích lớn cho chúng ta lắm. Chúng ta không còn chấp cái thân, không còn dính kẹt, bỏ hết rồi, cho nên đến khi ôm vào cái pháp mà đúng rồi, nó đi nhanh lắm.

_________________
Đừng vội tin, cũng đừng vội phủ nhận!
http://vn.myblog.yahoo.com/tinhkhicong


Ngoại tuyến
   
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Cách Tịnh chỉ hơi thở - Nhập Tứ thiền - Đắc đạo & giải thoát
Gửi bàiĐã gửi: 22 Tháng 10 2018 00:17 
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 25 Tháng 8 2009 01:41
Bài viết: 276
Như Lý Tác Ý

(Trưởng lão Thích Thông Lạc, trích ĐVXP.5, TG. 2011. tr.143-153)
Nguồn: Sách: Đường Về Xứ Phật - Tập 5

Hỏi: Kính thưa Thầy, tại sao Thầy dạy chúng con phải tự kỷ ám thị, mà trong kinh Phật không có dạy, cúi mong Thầy chỉ dạy cho chúng con được rõ?

Ðáp: Như lý tác ý là pháp môn tự kỷ ám thị. Như lý tác ý là danh từ ngày xưa đức Phật dùng để thực hiện xa lìa tâm ham muốn và các ác pháp. Ngày nay, các nhà học giả không có kinh nghiệm tu hành, nên không hiểu pháp như lý tác ý là phương pháp tự kỷ ám thị.

Hầu hết các nhà học giả thuyết kinh điển Phật đều không hiểu pháp này, nên đã biến pháp môn như lý tác ý của Phật thành một lý thuyết suông. Vì thế, hơn 25 thế kỷkhông có người nào tu chứng và làm chủ sanh, già, bệnh, chết một cách cụ thể, chỉ huyền thuyết một vài mẩu chuyện thần thông cho vui mà thôi.

Nếu không có pháp “như lý tác ý” thì tu hành không có đạo lực, không có đạo lực thì không làm chủ sự sống, chết của con người được. Nếu một người tu thiền định mà không biết sử dụng pháp như lý tác ý thì không thể nào nhập được các định.

Ở đây, chúng ta hãy nghe đức Phật dạy một người muốn tu thiền định phải dùng pháp như lý tác ý như thế nào để nhập được định, không giống như các hệ phái Phật giáo phát triển dạy.

“Chư Tỳ Kheo, Tỳ Kheo muốn thực hiện tu tăng thượng tâm (thiền định) thì cần phải thường tác ý năm tướng. Thế nào là năm tướng?

Năm tướng là:

1- Tham

2- Sân

3- Si

4- Mạn

5- Nghi

“Ở đây Tỳ Kheo y cứ tướng nào, tác ý tướng nấy. Các ác bất thiện pháp liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si, liên hệ đến mạn, và liên hệ đến nghi sanh khởi, thời này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ấy cần phải tác ý một tướng khác liên hệ đến thiện không phải tướng kia (ác bất thiện pháp liên hệ đến dục) thì các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục (tham) liên hệ đến sân, liên hệ đến si, liên hệ đến mạn, liên hệ đến nghi được diệt trừ đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tỉnh”.

Ðoạn kinh trên đây đức Phật dạy tu thiền, không phải chỗ nhiếp tâm cho hết vọng tưởng để nhập định. Ngược lại, Phật dạy dùng pháp như lý tác ý để trừ diệt, đi đến diệt vong tâm tham, sân, si, mạn, nghi. Chính nhờ diệt trừ chúng mới đạt được nhất tâm, nhập được Tứ Thánh Ðịnh.

Bài kinh này chỉ dạy rất rõ ràng, thế mà thời nay người tu thiền cứ mải mê nhiếp tâm cho hết vọng tưởng. Tu như vậy gọi là thiền của Phật thật là oan cho Phật giáo biết chừng nào!

Phật dạy trong kinh như vậy mà bây giờ tu sĩ lại tu khác. Phật giáo Ðại Thừa và Phật giáo Tối Thượng Thừa chấp nhận pháp ức chế tâm cho đó là chân chánh, vì thế tu sĩ ngày nay tu theo pháp môn ngoại đạo mà cứ tưởng mình tu theo Phật giáo. Cho nên, tu từ đời ông đến đời cha mà chẳng có ai giải thoát cả.

Phật dạy: Nếu khi gặp một hoàn cảnh, một đối tượng, một sự việc xảy đến khiến tâm đau khổ và phiền não, khi ấy hành giả dùng pháp như lý tác ý mà tác ý với một tướng khác với tướng kia, tức là tướng không phiền não, đau khổ, tướng này liên hệ đến thiện, không tham, sân, si, mạn, nghi, các ác pháp, bất thiện pháp có tầm liên hệ đến dục tham, sân, si, mạn, nghi. Nếu tướng ác pháp kia không lìa ra được, hoặc không đoạn diệt được, thì phải mau quán xét các niệm ác và bất thiện pháp kia là nguy hiểm, là khổ đau cho mình cho người, những niệm như vậy là ác độc, là có tội lỗi và sẽ tạo ra khổ báo phiền não, đau khổ hiện giờ và mai sau. Do quán xét và tác ý như vậy thì tâm ta sẽ xả được các ác pháp và trở về trạng thái thanh thản, an lạc và vô sự.

Khi quán xét và tác ý như vậy, các ác bất thiện pháp tham, sân, si, mạn, nghi sẽ được diệt trừ và xả ly. Nhờ có quán xét và tùy ý (giữ ý trong niệm đó) như vậy tâm chúng ta mới xả ly được, nội tâm mới được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tỉnh và an lạc.

Nếu khi quán xét và tác ý các pháp ác đó là nguy hiểm, là tội khổ, là khổ báo mà tâm vẫn còn hậm hực, hờn giận, phiền não, sợ hãi, lo toan, v.v... Lại khởi lên các ác niệm nữa, thì ta không tác ý tâm như đất nữa và không quán xét nữa, ta để tâm tự nhiên rồi như lý tác ý: “Thân tâm thư giãn xuống, các cơ buông xuống, tâm buông xuống, thân tâm phải thoải mái, nhẹ nhàng, an lạc”. Hướng tâm xong, ta đi kinh hành hoặc ngồi hít thở, thỉnh thoảng ta lại hướng tâm như vậy thì các ác pháp kia sẽ tan biến và diệt trừ đoạn dứt tâm bất động, đau khổ và phiền não sẽ dứt sạch, nội tâm ta được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tỉnh.

Nếu dùng pháp hướng tâm như lý tác ý và thư giãn thân tâm mà “ác niệm còn khởi, tâm ta chưa an tịnh” thì lại dùng pháp hướng tâm đến các hành của các ác pháp thì các ác pháp bất thiện sẽ được diệt trừ, xa lìa đoạn dứt. Nhờ có đoạn trừ, diệt chúng được, nội tâm mới được thanh thản, an lạc, định tỉnh, nhất tâm.

Dùng pháp hướng tâm đến các hành như thế nào? Muốn hiểu nghĩa này chúng tôi cho những ví dụ cụ thể trong kinh mới dễ nhận ra rõ ràng nghĩa lý này.

Ví dụ: “Một người đang đi nhanh, họ suy nghĩ và hướng tâm như lý tác ý tại sao ta lại đi nhanh? Ta hãy đi chậm lại. Trong khi hướng tâm như vậy, người ấy đi chậm lại, người ấy suy nghĩ và tác ý (Như lý tác ý): Tại sao ta lại đi chậm? Ta hãy dừng lại. Trong khi dừng lại, người ấy suy nghĩ và tác ý. Tại sao ta lại dừng lại? Ta hãy ngồi xuống. Trong khi ngồi người ấy suy nghĩ và hướng tâm như lý. Tại sao ta lại ngồi? Ta hãy nằm xuống”. Dùng pháp hướng tâm như lý tác ý bỏ dần các hành động thô của ác pháp đi đến những hành động tế nhị và cuối cùng xa lìa đoạn diệt các ác pháp liên hệ đến tâm tham, sân, si, mạn, nghi sẽ được diệt trừ đi đến đoạn diệt nên nội tâm được thanh thản, an lạc, nhất tâm, định tỉnh.

Nếu dùng pháp hướng như lý tác ý đến các hành của ác pháp liên hệ đến niệm dục mà không diệt được và xa lìa được niệm dục ấy thì phải nghiến răng dán chặt lưỡi lên nóc họng lấy tâm và các cơ chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm bằng pháp hướng như lý tác ý: “Tâm tham dục phải đoạn dứt liền, phải lìa xa nơi niệm tham muốn, sân hận, phải đi đi, đi cho khỏi nơi đây”. Dùng pháp hướng mạnh bạo để diệt trừ tâm tham dục, ngã chấp tạo nên đau khổ, phiền lụy cho mình cho người, phải đoạn dứt một cách nhanh chóng để phục hồi tâm lại bình thường, an lạc, thanh thản. “Dùng pháp hướng mạnh bạo ấy, ví như người lực sĩ nắm lấy đầu một người ốm yếu xách bổng họ và muốn ném đâu tuỳ ý”.

Tóm lại, trong Kinh Song Tầm và Kinh An Trú Tầm đức Phật đã dạy rất rõ ràng: muốn ly dục, ly ác pháp, diệt ngã, xả tâm thì phải dùng pháp như lý tác ý bằng năm cách như trong kinh đã dạy để làm chủ được cuộc sống không còn khổ đau, và bất toại nguyện, luôn luôn lúc nào tâm hồn cũng thanh thản, an lạc, định tỉnh và vô sự. Nên đức Phật dạy: “Chư Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ấy được gọi là đã an trú trong “đoạn tầm pháp môn”. Vị ấy có thể tác ý đến tầm nào vị ấy muốn, có thể không tác ý đến tầm nào vị ấy không muốn, vị ấy đã đoạn trừ khát ái, đã giải thoát các kiết sử, đã khéo chinh phục kiêu mạn và đã chấm dứt khổ đau”.

Pháp thế gian mà kinh sách Ðại Thừa và Thiền Ðông Ðộ gọi là “vọng tưởng”, còn niệm thiện niệm ác và như lý tác ý thì kinh sách Nguyên Thủy Phật dạy đó là tầm ác, tầm thiện và pháp như lý tác ý. Biết tầm thiện, tầm ác và pháp như lý tác ý là biết pháp tu hành theo Phật giáo. Ngược lại Ðại Thừa và Thiền Ðông Ðộ dạy người tu tập:

1- Biết vọng không theo.

2- Ðối cảnh không tâm.

3- Không kẹt hai bên.

4- Hằng sống với cái chân thật, không theo cái giả.

Bốn cách tu tập này cũng nhắm vào diệt vọng tưởng mà thôi.

“Muốn thấy nó bạn đừng theo vọng tưởng,

Niệm lăng xăng chìm đắm biển thanh bình.

Ðến đây rồi hạnh phúc khó thưa trình,

Chỉ xem thấy nụ cười luôn hé nở”.

Trên đây là một bài thơ của một thiền sư đã chứng đạo Ðại Thừa và Thiền Ðông Ðộ, để chứng minh pháp diệt vọng tưởng của họ.

Kinh sách Ðại Thừa và Thiền Ðông Ðộ nhắm vào chỗ “vọng tưởng”, vọng tưởng hết rồi thì viên mãn “niệm lăng xăng chìm đắm biển thanh bình’’. Nhưng đối với đạo Phật thì khác xa. Tầm ác, tức là vọng tưởng ác thì ngăn chặn và diệt sạch còn tầm thiện thì sanh khởi và tăng trưởng không diệt mà còn nuôi dưỡng để không làm khổ mình, khổ người. Nhờ tầm thiện đó mà mỗi con người xây dựng cho mình một nền đạo đức nhân bản không làm khổ mình, khổ người.

Muốn diệt tầm ác (vọng tưởng ác, niệm ác) thì dùng pháp hướng tâm tác ý (như lý tác ý, để ngăn chặn và diệt trừ) tăng trưởng tầm thiện (vọng tưởng thiện, niệm thiện) để giúp tâm không làm khổ mình, khổ người, để trở về trạng thái bình thường, thanh thản, an lạc, vô sự và định tỉnh.

Xét qua hai cách tu tập thì Ðại Thừa và Thiền Ðông Ðộ do ức chế tâm diệt vọng tưởng để đạt trạng thái yên lặng đến tĩnh lặng mà họ gọi là thiền định, còn Phật dạy dùng pháp hướng tâm như lý tác ý để ly dục, ly ác pháp, diệt ngã, xả tâm quét sạch ngũ triền cái, đoạn dứt thất kiết sử, tâm vô lậu thanh tịnh không còn đắm nhiễm sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp của thế gian, tâm được thanh tịnh đó gọi là định.

Vì thế, thiền định của Phật không giống với thiền định của Ðại Thừa và Thiền Tông. Thiền định của Ðại Thừa và Thiền Tông thì tìm cái tĩnh lặng với trạng thái thường, lạc, ngã, tịnh (bốn tánh Niết Bàn). Lấy cái biết không niệm thiện niệm ác làm “Phật Tánh” để hằng sống với cái chân thật đó của mình; tu tập để tìm về thế giới vĩnh hằng của “Phật Tánh”; không có đạo lực, không có làm chủ sự sống chết, chỉ có đạo thông tưởng pháp, nói thiền nói đạo như gió thổi mưa sa. Còn thiền định của Phật thì tìm về cuộc sống, có một trạng thái an lạc, thanh thản, làm chủ bốn cái khổ của kiếp người sanh, già, bệnh, chết; tu tập vừa có đạo thông vừa có đạo lực điều khiển sự sống chết luân hồi theo ý muốn.

Như vậy rõ ràng hai bên có hai lối tu và hai kết quả khác nhau. Qua sự kinh nghiệm tu tập của chúng tôi mà trong kinh sách Nguyên Thủy dạy rất rõ ràng và cụ thể, bằng ý thức chủ động của người tu điều khiển sự sống chết của con người, không mơ hồ, trừu tượng như thế giới tưởng của hệ phái Ðại Thừa và Thiền Tông. Cho nên, sự tu hành của hệ phái Ðại Thừa và Thiền Tông như vậy, cuộc sống của các thiền sư còn chìm đắm trong danh, lợi, tham, sân, si của thế gian. Vọng tưởng là một đề tài của Ðại Thừa và Thiền Ðông Ðộ dùng làm đối tượng để tu tập thiền định, còn Phật giáo Nguyên Thủy “vọng tưởng” không thành vấn đề tu tập mà đối tượng tu tập là tâm tham, sân, si, mạn, nghi và thất kiết sử.

Muốn diệt trừ tâm tham, sân, si, mạn, nghi và thất kiết sử thì Phật giáo Nguyên thủy dùng pháp môn như lý tác ý để tu tập, để rèn luyện Ngũ lực. Ðại Thừa và Thiền Ðông Ðộ lại chê pháp môn như lý tác ý là vọng tưởng, dẹp bỏ pháp môn như lý tác ý. Nguyên Thủy dùng pháp môn hướng tâm như lý tác ý để diệt trừ tam độc và thất kiết sử, khiến cho tâm được giải thoát hoàn toàn, không còn khổ đau của kiếp người và biến pháp như lý tác ý trở thành một đạo lực siêu việt làm chủ điều khiển sự sống chết của kiếp con người một cách dễ dàng, không mấy khó khăn, đó là thực hiện Tứ Như Ý Túc và Tam Minh.

_________________
Đừng vội tin, cũng đừng vội phủ nhận!
http://vn.myblog.yahoo.com/tinhkhicong


Ngoại tuyến
   
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Cách Tịnh chỉ hơi thở - Nhập Tứ thiền - Đắc đạo & giải thoát
Gửi bàiĐã gửi: 22 Tháng 10 2018 00:20 
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 25 Tháng 8 2009 01:41
Bài viết: 276
PHÁP MÔN NHƯ LÝ TÁC Ý

(Trưởng Lão Thích Thông Lạc, NLGPD.3, TG.2010, tr. 156-166)
http://www.nguyenthuychonnhu.net/ebooks ... tDay-3.pdf

LỜI PHẬT DẠY

- “Thưa Hiền giả Sàriputta (Xá Lợi Phất) những pháp gì Tỳ kheo giữ giới cần phải như lý tác ý?

- “Này Hiền giả Kotthika, Tỳ Kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.

Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỳ Kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.

Này Hiền giả, sự kiện này xảy ra: Tỳ Kheo giữ giới do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả “Dự lưu”.

- “Với Tỳ Kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Sàriputta, những pháp gì cần phải như lý tác ý?”

- “Với Tỳ Kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Kotthika cần phải tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ Kheo Dự lưu, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả “Nhất lai”.

- “Nhưng Tỳ Kheo Nhất Lai, này Hiền giả Sàriputta, phải như lý tác ý các pháp gì?”

- “Tỳ Kheo Nhất Lai, này Hiền giả Kotthika, phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra. Này Hiền giả, Tỳ Kheo Nhất Lai do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả “Bất Lai”.

- “Nhưng Tỳ Kheo Bất Lai, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý những pháp gì?”

- “Tỳ Kheo Bất Lai, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ Kheo Bất Lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả “A La Hán”.

- “Nhưng v ị A La Hán, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý những pháp gì nữa?”

- “Với vị A La Hán, này Hiền giả Kotthika, không có gì phải làm nữa hay không có phải thêm gì nữa trong công việc làm. Những sự tu tập, làm cho sung mãn những pháp này sẽ đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác.” (Tương Ưng kinh tập 3, Kinh Vị Giữ Giới, Siii.167)

CHÚ GIẢI:

QUẢ TU-ÐÀ-HOÀN (quả “Dự lưu”)

Theo như trong bài kinh này dạy thì pháp tu hành phải có kết quả từ thấp đến cao đều duy nhất có một pháp tu tập, đó là pháp NHƯ LÝ TÁC Ý NĂM THỦ UẨN. Khởi sự bắt đầu tu tập là phải tu tập giới luật. Vậy tu tập giới luật phải tu tập như thế nào?

Chúng ta hãy lắng nghe pháp thoại giữa ông Sàriputta và ông Kotthika:

“-Thưa Hiền giả Sàriputta, (Xá Lợi Phất) những pháp gì Tỳ kheo giữ giới cần phải như lý tác ý?

- “Này Hiền giả Kotthika, Tỳ Kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, người lạ, ốm đau, người lạ hủy hoại, rỗng không, vô ngã. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủuẩn, thức thủ uẩn”.

Như các bạn đã biết năm thủ uẩn là thân ngũ uẩn của các bạn. Mục đích của bài pháp này dạy là các bạn tu tập năm thủ uẩn bằng pháp như lý tác ý với câu này: “Năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã”.

Muốn giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh, không hề vi phạm một lỗi nhỏ nhặt nào, thì luôn luôn phải tác ý câu trên đây. Tác ý câu trên đây cho đến khi nào giới luật nghiêm chỉnh, tức là giới luật thanh tịnh. Giới luật thanh tịnh là các bạn đã được dự vào dòng Thánh. Ðược dự vào dòng Thánh. Dòng Thánh có tên gọi là TU ÐÀ HOÀN. Cho nên, bài kinh này đã xác định rõ ràng:

“Này Hiền giả, sự kiện này xảy ra: Tỳ Kheo giữ giới do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả “Dự lưu” (Tu Ðà Hoàn)”.

QUẢ TƯ-ÐÀ-HÀM (quả “Nhất lai”)

Khi Giới luật nghiêm chỉnh các bạn sẽ là một bậc Thánh giới của Phật giáo, tức là các bạn đã ly dục ly ác pháp tương ưng với Sơ Thiền. Khi tu tập đạt được kết quả này các bạn lại tiến bước thêm trên đường thiền định bằng phương pháp như lý tác ý năm thủ uẩn như trong kinh dạy:

- “Với Tỳ Kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Sàriputta, những pháp gì cần phải như lý tác ý?

- “Với Tỳ Kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Kotthika cần phải tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ Kheo Dự lưu, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả “Nhất lai”.

Chỉ có một pháp duy nhất NHƯ LÝ TÁC Ý NĂM THỦ UẨN mà các bạn đã chứng quả Nhất Lai. Quả Nhất Lai là quả TƯ ÐÀ HÀM, quả này tương ưng với quả Nhị Nhiền. Như vậy, các bạn muốn nhập Nhị Thiền thì các bạn chỉ cần dùng pháp NHƯ LÝ TÁC Ý NĂM THỦ UẨN là diệt tầm tứ nhập Nhị Thiền.

Bây giờ các bạn biết rõ pháp tu tập để nhập Nhị Thiền chưa? Từ lâu các bạn chỉ ở trên lý thuyết của các học giả. Bây giờ không còn lý thuyết nữa là pháp hành cụ thể rõ ràng, không còn mơ hồ trừu tượng nữa.

QUẢ A-NA-HÀM (quả “Bất Lai”)

Hiện giờ các bạn nhập được Nhị Thiền, chứng được quả Nhất Lai thì các bạn lại tiếp tục tu tập pháp NHƯ LÝ TÁC Ý NĂM THỦ UẨN như trong kinh đã dạy:

- “Nhưng Tỳ Kheo Nhất Lai, này Hiền giả Sàriputta, phải như lý tác ý các pháp gì?”

- “Tỳ Kheo Nhất Lai, này Hiền giả Kotthika, phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra. Này Hiền giả, Tỳ Kheo Nhất Lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả “Bất Lai”.

Do tu tập pháp NHƯ LÝ TÁC Ý NĂM THỦ UẨN mà chứng được quả bất lai. Quả bất lai tức là Quả A Na Hàm. Quả A Na Hàm tương ưng quả của Tam Thiền là ly hỷ trú xả.

Như vậy các bạn muốn nhập Tam Thiền thì chỉ cần thực hành pháp NHƯ LÝ TÁC Ý NĂM THỦ UẨN.

QUẢ A-LA-HÁN

Sau khi tu tập chứng quả A Na Hàm xong thì các bạn tiếp tục tập để chứng quả A La Hán, muốn tu chứng quả A La Hán thì các bạn nên tu tập Thiền Thứ Tư. Thiền Thứ Tư là phải tịnh chỉ hơi thở, là phải xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh. Như vậy, muốn tịnh chỉ hơi thở xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh thì phải làm sao? Tu tập như thế nào để đạt được quả A La Hán? Vậy các bạn hãy lắng nghe ông Xá Lợi Phất dạy:

“Nhưng Tỳ Kheo Bất Lai, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý những pháp gì?

- “Tỳ Kheo Bất Lai, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ Kheo Bất Lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả “A La Hán”.

Như lời dạy trên đây chúng ta thấy rất đơn giản pháp NHƯ LÝ TÁC Ý NĂM THỦ UẨN. Chỉ có bấy nhiêu thôi mà tu tập chứng quả A La Hán, thật không có khó khăn, không có mệt nhọc. Phải không các bạn? Cho nên Phật dạy:

“Với tâm định tỉnh nhu nhuyễn, dễ sử dụng, nhập bốn thiền, thực hiện Tam Minh không có khó khăn, không có mệt nhọc”, nhưng làm sao đạt được tâm định tỉnh, nhu nhuyễn, dễ sử dụng? Thì ra là pháp môn NHƯ LÝ TÁC Ý NĂM THỦ UẨN.

Vậy, bây giờ các bạn đã biết pháp tu rồi chứ! Nếu không có bài kinh này chắc các bạn không bao giờ biết cách thức nào và làm sao nhập Tứ Thánh Ðịnh và thực hiện Tam Minh.

Pháp môn NHƯ LÝ TÁC Ý NĂM THỦ UẨN là pháp môn gì, các bạn có biết không? Ðó là pháp môn Tứ Niệm Xứ các bạn ạ! Sau khi soạn thảo giáo trình tu học cho tám lớp và ba cấp của Phật giáo thì chúng tôi sẽ đưa những bài học và tu tập này giảng dạy đúng chương trình giáo dục đào tạo bậc A La Hán thì các bạn sẽ hiểu rõ bài kinh này nhiều hơn.

CHỨNG QUẢ A-LA-HÁN CÒN TU PHÁP NÀO NỮA KHÔNG?

Sau khi tu chứng quả A-La-Hán xong thì còn tu tập pháp môn nào nữa không? Thưa các bạn! Khi tu chứng quả A-La-Hán xong thì còn tu tập pháp môn nào nữa, vì tu tập đến đó là tu tập đã xong, chứng quả A-La-Hán là kết quả cuối cùng của con đường tu theo Phật giáo, đó là mục đích mà bốn chân lý của Phật giáo đã xác định “DIỆT ÐẾ”, cho nên không còn phải tu tập pháp gì nữa khác. Xin các bạn hãy lắng nghe ông Xá Lợi Phất dạy:

“Nhưng Tỳ Kheo A-La-Hán, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý những pháp gì?

“Với vị A-La-Hán, này Hiền giả Kotthika, không có pháp gì phải làm nữa hay không có phải thêm gì nữa trong công việc làm.
Những sự tu tập, làm cho sung mãn những pháp này sẽ đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác”. (Tương Ưng kinh tập 3, Kinh Vị Giữ Giới, Siii.167).

Ðoạn kinh này đã xác định rõ ràng, người tu chứng quả A La Hán là không còn tu nữa, vậy mà Ðại Thừa dám bịa đặt ra tu chứng quả A La Hán xong còn phải tiếp tục tu tập để chứng quả Phật. Ðại Thừa xây dựng quả Phật cao hơn quả A La Hán. Khi tu chứng quả A La Hán là quả tâm vô lậu. Tâm vô lậu là tâm không còn khổ đau, tâm giải thoát, tâm làm chủ sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt tái sanh luân hồi. Thế mà Ðại Thừa còn bảo tu nữa, đó là ý đồ của Ðại Thừa là muốn quét sạch Phật giáo ra khỏi thế gian này, cho nên đặt ra quả Phật để diệt quả A La Hán. Diệt quả A La Hán tức là diệt chân lý thứ ba của Phật giáo (Diệt đế). Quả Phật không phải Diệt đế, vì Diệt đế là tâm vô lậu.

Ðọc đến bài kinh này các bạn mới thấy rõ âm mưu của Ðại Thừa và Thiền Tông rất muốn diệt Phật giáo một cách sâu sắc khiến cho tín đồ Phật giáo không thể nào ngờ được.

Trên đây là một bài pháp mà Phật đã dạy cho chúng Tỳ Kheo về pháp môn NHƯ LÝ TÁC Ý NĂM THỦ UẨN vô thường… vô ngã. Duy nhất chỉ có một pháp như lý tác ý năm thủ uẩn vô thường… vô ngã. Bắt đầu tu tập như vậy, sẽ chứng từ quả Dự Lưu đến quả A La Hán.

Xem bài kinh trên đây chúng ta mới thấy pháp như lý tác ý rất quan trọng trong sự tu tập theo Phật giáo. Nếu tu theo Phật giáo mà không có pháp như lý tác ý thì chúng tôi tin rằng không có ai tu giải thoát được. Và không có pháp như lý tác ý thì chúng ta sẽ tu thiền định tưởng của ngoại đạo, chứ không phải thiền định của Phật giáo (Chánh Ðịnh).

Bài kinh này xác định rằng: người nào dùng ý thức tu tập pháp như lý tác ý để ly tham, đoạn diệt ác pháp, là không tu sai Phật Pháp, còn ngược lại là tu sai. Và như vậy chúng ta mới có đủ niềm tin vững chắc đối với pháp môn này. Có niềm tin vững chắc với Phật pháp, thì mới có đủ ý chí sắt, đá và kiên gan, bền chí chiến đấu với giặc sanh tử. Nhờ đó thì sự tu hành mới có tiến bộ và mới đạt đến mục đích cuối cùng.

Trên đây là một pháp môn tu tập rất đơn giản của Phật giáo, không bị ức chế tâm một chút nào cả, mà bất cứ người nào từ già đến trẻ đều tu tập có kết quả giải thoát như nhau, đó là “PHÁP MÔN NHƯ LÝ TÁC Ý NĂM THỦ UẨN”.

Xin các bạn hãy vững lòng tin mà áp dụng vào đời sống của mình thì các bạn sẽ thấy kết quả giải thoát ngay liền./.

_________________
Đừng vội tin, cũng đừng vội phủ nhận!
http://vn.myblog.yahoo.com/tinhkhicong


Ngoại tuyến
   
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Cách Tịnh chỉ hơi thở - Nhập Tứ thiền - Đắc đạo & giải thoát
Gửi bàiĐã gửi: 22 Tháng 10 2018 00:33 
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 25 Tháng 8 2009 01:41
Bài viết: 276
Đôi Nét Về Thầy Thích Thông Lạc

Trưởng lão Thích Thông Lạc, thế danh là Lê Ngọc An, sinh ngày 4/8 năm Mậu Thìn, nhằm ngày 17/9 dương lịch năm 1928. Thầy là con thứ tư trong gia đình. Ông thân Thầy là hòa thượng Thích Thiện Thành, thế danh là Lê Văn Huấn, trụ trì đời thứ tư chùa Am (Ấp Gia Lâm, Xả Gia Lộc, Huyện Trảng Bàng, Tỉnh Tây Ninh), ông là một thầy thuốc đông y, thường chữa bệnh cho mọi người. Vì thế chùa Am giống như trạm y tế xã, bình thường mọi người tới trị bệnh đông như ngày hội. Mẹ Thầy là tín nữ Thiện Tâm, người trông nom chùa Am.

Thầy được ông thân cho xuất gia năm 8 tuổi, được học với nhiều vị hòa thượng và được hòa thượng Thiện Hòa cử đi học Phật học viện Huệ Nghiêm và Đại học Vạn Hạnh. Thầy cũng được các vị hòa thượng giới thiệu tham gia giảng dạy trong các trường Bồ Đề trong lúc còn đang học tại Đại học Văn khoa Sài Gòn. Quê hương còn chiến tranh ác liệt, Thầy có tham gia hoạt động trong phong trào học sinh - sinh viên phản chiến.

Lúc ông thân Thầy lâm bệnh, Thầy trở về quê nhà chăm sóc. Chứng kiến sự ra đi của người cha rất mực thân thương, không biết là về phương nào? Thấy cuộc đời này quá đau khổ, Thầy quyết tâm tu tập giải thoát, và cũng để tìm người cha hiền hiện nay đang ở đâu!? Xếp lại phía sau mọi chuyện thế gian, Thầy lại khoác áo tu hành, bắt đầu cho công cuộc đấu tranh đầy cam go nhưng oanh liệt là giành lại quyền làm chủ sanh tử cho bản thân mình. Đây là bước ngoặt lịch sử để một bậc làm chủ sanh, già, bệnh, chết ra đời dựng lại chánh pháp của Phật sau này.

Thầy đã trải qua nhiều pháp môn tu tập từ Mật Tông, Tịnh Độ Tông và Thiền Tông, và ở pháp môn nào Thầy cũng nỗ lực hết sức đạt thành chỗ tâm đắc của pháp môn đó, nhưng vẫn không làm chủ được sinh, già, bệnh, chết như kinh Phật đã dạy.

Ở tu viện Chơn Không học thiền với hòa thượng Thanh Từ trong ba tháng an cư năm 1970, được Sư Phụ giảng cho pháp môn tri vọng, Thầy như con Đại Tượng qua sông không ngoái đầu nhìn lại, đã tinh tấn không phút giây lơi lỏng. Có lần hòa thượng tuyên bố: “Trong pháp hội có người đại tinh tấn”, mọi người ngầm hiểu đó là Thầy.

Rời khỏi Chân Không lên Hòn Sơn Rạch Giá, ngồi tu ngót năm trời trong cái hang đá, những thợ rừng thỉnh thoảng mang cơm gạo cúng dường Thầy, Thầy cảm thấy không tiện nên tập ăn lá cây rừng để sống. Hòn Sơn nơi đây là thánh tích ghi dấu cho một con người quyết tâm tìm cầu sự giải thoát mọi sự đau khổ của kiếp người.

Trên đình Hòn Sơn, Thầy sống trong hang đá Ma Thiên Lãnh. Những đêm khuya thanh vắng, tiếng tàu đánh cá ngoài khơi xa văng vẳng gợi lên lòng thương nhớ mẹ và em nơi quê nhà, trong khi đất nước còn bom cày, đạn xé từng tấc đất yêu thương. Bao nhiêu câu hỏi dồn dập trong đầu, không sao trả lời được, bấy giờ pháp môn tri vọng vô phương, không sao dẹp được loạn tưởng này.

Từ Hòn Sơn trở về Thầy nói với mẹ: “Mẹ ráng nuôi con ngày một bữa, đời con chỉ biết có tu hành mà thôi”. Nghe Thầy nói vậy, mẹ Thầy xúc động không cầm được nước mắt.

Khép cửa thất lại, Thầy bắt đầu sống cuộc đời cô đơn, cô độc gần mười năm liền.

Người em gái buôn gánh, bán bưng chắt mót từng đồng để nuôi mẹ, nuôi anh tu hành. Mẹ của Thầy lo nhiệm vụ hộ thất, mang cơm, xách nước cho Thầy qua khung lỗ nhỏ.

Thời gian lặng lẽ trôi qua mãi, những đĩa rau khoai lang luộc với chút ít nước tương trong chén, hoặc nắm muối trắng bên cạnh tô cơm là những gì nuôi nấng chút sức lực còn lại, để Thầy âm thầm chiến đấu với giặc sanh tử từ muôn kiếp.

Thầy nhớ văng vẳng bên tai lời của Sư phụ (Hòa thượng Thanh Từ): “Phật pháp còn hiện hữu ở thế gian bởi vì còn có người tu chứng”.

Ðúng vậy, nếu Phật pháp không có người tu chứng thì giáo pháp của ngoại đạo sẽ diệt mất Phật pháp. Bằng chứng cụ thể như hiện giờ, kinh sách Ðại Thừa và kinh sách Thiền Tông của Trung Quốc đã diệt mất Phật pháp ở nước Việt nam này.

Vì sợ danh “Đại tinh tấn” mà rời khỏi Chân Không, nhưng lòng Thầy lúc nào cũng nhớ đến sư phụ, nên Thầy nguyện dốc hết sức tiến tu để đền ơn sư phụ đã chỉ dạy đường lối tu hành quí báu, cũng là để cho pháp môn Thiền Tông hiện hữu ở mãi thế gian, để cho chúng sinh có nơi nương tựa, từ thế hệ, này đến thế hệ mai sau và mãi mãi.

Nhớ lại lúc mới dụng công, Thầy cũng cố gắng biết vọng không theo theo pháp môn sư phụ dạy, nhưng vọng tưởng chập chùng ngăn che, cái biết không hiện tiền, vọng tưởng cứ tuôn chảy mãi trong đầu. Thầy tự thấy Thầy chưa đủ trình độ đi con đường thẳng tắp “biết vọng liền buông” này, nên Thầy lui lại, áp dụng phương pháp đếm hơi thở. Sau khi đếm hơi thở thuần thục, Thầy lại chuyển sang tùy tức, là theo dõi hơi thở. Sau một thời gian chuyên chú pháp tùy tức, sức tỉnh giác đã tăng tiến, đã mạnh, Thầy mới trở lại phương pháp biết vọng không theo.

Hồi còn ở Chân Không, Sư phụ có đưa một tập sách trong Ðại Tạng Kinh chữ Hán, bảo thầy Thông Lạc dịch ra chữ Việt, nhưng Thầy xin miễn công việc đó, dành trọn thời gian cho việc độn công phu, không dùng thời gian cho việc nghĩa giải kinh sách.

Bây giờ, ở trong thất kín cũng vậy, Thầy bỏ hết sách vở, một bề miên mật xoay về tu tập nội tâm tỉnh giác.

Có những khi Thầy bắt chân lên ngồi, liền thấy rõ cảnh vật ở làng xa xa, nhưng Thầy không chấp nhận, nên Thầy xả ngồi thiền, đứng dậy đi kinh hành. Hôm thầy Nhật Quang về thăm quê, có ghé thăm thầy Thông Lạc. Thầy Thông Lạc có hỏi thăm về sự việc này, thì thầy Nhật Quang bảo đó là ngũ ấm ma. Khi thầy Nhật Quang về núi thuật lại cho Sư phụ, Sư phụ có viết một bức thư gửi cho thầy Thông Lạc, nhưng bức thư đó không đến.

Những tháng ngày tiếp nối lặng lẽ trôi qua, cuộc đời bên ngoài biến chuyển rộn ràng. Chiến tranh khói lửa ngút ngàn. Đến năm 1975 thì hòa bình lập lại, sau cuộc chiến thắng lớn lao của quân đội giải phóng. Cả nước đang nỗ lực góp sức xây dựng lại quê hương, sau bao nhiêu năm chinh chiến. Hoàn cảnh lúc này có khó khăn, vì mới bước đầu dựng lại nền kinh tế độc lập cho xứ sở, và dĩ nhiên, sinh hoạt Phật giáo cũng có phần ảnh hưởng. Tu viện Chân Không chỉ còn vài thầy với Sư phụ; còn các thầy trẻ tuổi thì về Thường Chiếu ở Bà Rịa, mở mang canh tác.

Nhưng trong chiếc thất lá đơn sơ này, có một bóng người ngồi lặng lẽ, thản nhiên, không bận tâm về các việc khác. Người này đang còn bận phải lập một chiến công oanh liệt nhất, là tự chiến thắng chính mình. Cuộc chiến này chưa ngã ngũ, những tên giặc vọng tưởng vi tế còn lẩn lút đâu đây. Thầy Thông Lạc vẫn kiên trì, không chút lơi lỏng. Từng giờ, từng phút, từng giây đều kỹ lưỡng tỉnh giác, không cho sơ hở. Khi ăn, lúc uống, khi đứng, lúc đi kinh hành, khi ngồi thiền, lúc xả thiền đều miên mật chăm chú kỹ lưỡng tỉnh giác. Không một giây phút nào lơi lỏng.

Một thời gian dài lâu trôi qua như vậy. Một hôm Thầy chợt nghĩ: “Chư Phật thành đạo đều do sức đại hùng, đại lực, bây giờ mình phải khởi phát đại hùng để dứt hẳn vọng tưởng vi tế này”.

Thầy bắt chân lên bồ đoàn ngay thẳng, tập trung sức tỉnh giác tột độ, cột trói tâm vào hơi thở, vào mắt, vào tai. Quả nhiên, dòng vọng tưởng vi tế bị cột lại cứng ngắt.

Thầy dần dần cảm thấy thân thể bị đau đớn quá đỗi. Nhưng như con đại tượng đã qua sông không ngó lại, Thầy vẫn chịu đựng để mong dứt sạch vọng tưởng cuối cùng. Khi Thầy thấy dễ chịu và xả thiền, thì đã qua mất một đêm không hay.

Sáng, mẹ Thầy mang cơm vào, Thầy nói: “Bây giờ con ngồi thiền, nếu mẹ thấy thân con còn ấm thì thôi, còn nếu thấy thân con đã lạnh thì gọi bà con lại chôn con”.

Mẹ Thầy ngỡ ngàng nhìn Thầy, rồi lui ra, không tin những điều vừa nghe được. Nhưng những giọt nước mắt của mẹ Thầy rơi xuống, không dấu được Thầy. Thầy thương mẹ lắm, nước mắt của Thầy cũng chảy dài trên má. Thầy tự hứa với lòng mình: “Phải ráng tu để đền đáp ơn mẹ, ơn nhiều người”.

Thầy lại lên bồ đoàn, lại tập trung sức tỉnh giác tột độ như vậy, và cảm giác đau đớn lại khởi lên. Vẫn ý chí ngất trời xanh, vẫn tâm nguyện kiên cường như núi đá, Thầy tiếp tục ngồi không lay động.

Người mẹ già mỗi ngày mang cơm trưa vào, rồi chiều lại mang ra, còn y nguyên, vì Thầy ngồi mãi không xả. Bà lo sợ, nước mắt lại tuôn rơi, sợ Thầy chết mất, nên đến gần quan sát thì thấy vẫn còn hơi nóng nơi thân của Thầy, nên bà yên tâm đi ra, nhưng không sao giữ được những giọt nước mắt thương con. Bà thương con lắm, tu hành sao khổ đến thế!

Ðến ngày thứ bảy thì Thầy xả thiền, bà mừng rỡ mang cơm vào cho Thầy, định hỏi thăm vài điều, nhưng thấy Thầy nhìn bà như nhìn một người xa lạ và không nói câu nào, không bảo đói, không nói khát, chỉ ngồi trơ trơ, đôi mắt lạc lỏng như người từ một thế giới xa lạ nào lạc vào đây vậy.

Lúc này, thầy Thông Lạc đang ở trong cái đại tử của nhà thiền, mắt vẫn thấy, tai vẫn nghe, nhưng mọi suy nghĩ phân biệt không khởi, có cơm thì ăn, có nước thì uống, chứ không còn cảm thấy thấy đói khát gì cả. Khi ngồi thiền, khi xả thiền đều do từ thói quen của tay chân tự động, chứ không tác ý, không có ý thức. Thời gian đại tử này kéo dài gần hai tháng.

Một hôm, Thầy bắt chân ngồi sát bàn Phật mà không biết, đến khi xả thiền, kéo chân ra đụng vào góc bàn Phật, trạng thái đại tử của nhà thiền không phân biệt đó liền tan vỡ! Xem như giai đoạn tu tập Thiền Tông Tối Thượng Thừa đến đây là xong. Nhưng khi trở ra đời sống bình thường, không ở trong trạng thái đại tử này, thì Thầy thấy tâm mình còn tham, sân, si, mạn, nghi và còn mạnh hơn lúc chưa tu. Nhưng tâm rất khôn khéo, lý luận che đậy bằng những lời lẽ mà ta thường gặp trong kinh sách Thiền Tông và Ðại Thừa như: “Tự tại vô ngại đói ăn khát uống mệt ngủ liền”, hoặc: “vô sở đắc”, hoặc: “còn thấy tu chứng là chưa chứng”, hoặc: “Em là em, Phật là Phật, em không phải là Phật, Phật không phải là em”...

Tu xong rồi mà tâm vẫn còn phiền não, bệnh đau phải đi bác sĩ, phải uống thuốc, và không biết cách nào làm chủ sự sống chết.

Tu hành chỉ có thông suốt tất cả những công án và kinh sách Ðại Thừa để làm gì, khi không làm chủ được sanh, già, bệnh, chết? Thầy rất buồn nản, chẳng còn muốn sống, 10 năm tu tập trong thất rất là gian khổ, rốt cuộc chỉ có một số tưởng giải để lý luận hơn thua. Thế là cuộc đời tu hành của Thầy trở thành số không.

Nhập vào trạng thái không vọng tưởng thì 18 loại hỷ tưởng xuất hiện. Biết chuyện quá khứ, vị lai của mình, của người rất rõ ràng. Nhưng để làm gì đây? Ðể trở thành thầy bói ư! Thầy muốn chết đi cho xong, muốn vào rừng tự tử cho xong một đời tu hành chẳng ra gì. Tu hành chỉ đạt được như thế này thôi, chỉ có nói dối lừa người, chẳng ích lợi gì cho ai, lại còn mang nợ cơm áo của đàn na thí chủ.

Ôi! Thật là xót xa vô cùng, phí một đời người, chỉ trở thành người nói dối có kinh sách, còn giới luật thì không một giới nào là không vi phạm (phạm giới trong ý).

Ðúng là nên chết quách đi cho rồi, nhưng mẹ còn sống mà chết đi là bất hiếu. Bấy giờ, Thầy ở trong tình trạng như muốn điên loạn, thầy lấy tập kinh Trung Bộ song ngữ do Hòa thượng Minh Châu dịch ra đọc cho hết thời gian, nhưng khi đọc đến những câu: “Tác ý một tướng khác thì tướng kia bị diệt”, hoặc: “Quán ly tham tôi biết tôi hít vô”, hoặc: “Quán từ bỏ tâm tham...”, hoặc: “Quán đoạn diệt tâm tham...”. Ðọc đến những đoạn kinh này, thầy Thông Lạc như bừng tỉnh. Thầy áp dụng vào đời sống tu hành của mình ngay liền, Thầy không ngồi kiết già nữa, vì ngồi kiết già tâm sẽ nhập vào Không Vô Biên Xứ Tưởng. Thầy rất sợ 18 loại tưởng xuất hiện, nên chỉ ngồi tựa cửa thất, nhìn trời mây, cây cỏ mà tác ý: “TÂM NHƯ ÐẤT, LY THAM, SÂN, SI CHO THẬT SẠCH”. Nhờ tác ý như vậy, tâm Thầy lần lượt quay vào định trên thân, suốt ngày đêm Thầy không ngủ, luôn luôn biết hơi thở ra, vô và cảm giác toàn thân. Chính lúc này tâm Thầy đang quán thân trên thân, tức là Thầy đang tu tập Tứ Niệm Xứ mà không biết.

Tâm định trên thân suốt sáu tháng trời. Khi đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, uống đều biết chỉ có một tâm đó. Một hôm, trên tâm thanh tịnh đó xuất hiện Bốn Thần Túc. Thầy liền biết trạng thái đó một cách rõ ràng, nhưng cái biết đó không phải là ý thức, mà cái biết đó chỉ là thức uẩn, nên Thầy dùng thần lực của Tứ Thần Túc nhập Bốn Ðịnh Hữu Sắc và thực hiện Tam Minh. Thầy hoàn toàn làm chủ sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt luân hồi sanh tử. Thầy biết rất rõ chỉ còn một đời sống này nữa mà thôi. Tâm Thầy không còn một chút tham, sân, si, mạn, nghi nào cả.

Sau sáu tháng tu tập với câu tác ý đơn giản, mà thành công vĩ đại không ngờ.

Sự thành công này mở màn cho nền đạo đức nhân bản - nhân quả của Phật giáo ra đời.

Thầy mở cửa thất đi ra. Thầy hiện giờ là người chiến thắng vinh quang, sau hơn mười năm giam mình trong cô đơn hiu quạnh, Thầy đi đến mẹ mình nói: “Từ nay mẹ khỏi mang cơm vào thất, vì con sẽ ra đây ăn cơm với mẹ. Con đã tu xong rồi”. Mẹ Thầy vui mừng quá đỗi, nói: “Thời gian qua mẹ tưởng con điên mất, và nhất là lo sợ con chết”.

Có lẽ lời nguyện hứa từ kiếp nào đã làm tròn, Mẹ của Thầy ra đi vào cõi vĩnh hằng sau ngày đó ba tháng. Trong nhà chỉ còn lại hai anh em, nên thầy Thông Lạc xin một đứa cháu mới tám tuổi, đặt cho pháp danh là Mật Hạnh, về nuôi, cho đi học và dạy tu hành.

Sau mười năm nhọc nhằn nuôi mẹ, nuôi anh tu hành, giờ đây, người em gái được Thầy giúp đỡ mọi công việc nặng nhọc, và được đặt cho pháp danh là Diệu Quang và lại được dạy pháp tu ngồi thiền xả tâm.

Ðó là hai người đệ tử cư sĩ đầu tiên được quy y với Thầy Thông Lạc.

Chùa Am xưa, sau này là Tu viện Chơn Như đã rộng cửa cho các tu sinh và phật tử về tu học, Thầy đã hướng dẫn họ tu hành đúng chánh pháp của Phật là diệt ngã, xả tâm ly dục ly ác pháp theo lộ trình Giới, Định, Tuệ. Thầy giải đáp mọi thắc mắc của quý tu sinh và phật tử về những điều đúng, sai, các kiến chấp và pháp tu trong đạo Phật, được biên tập lại trong bộ sách Đường Về Xứ Phật; cũng như chú giải lại những lời gốc Phật dạy trong tập sách cùng tên, những kinh điển cho mọi thế hệ tu hành mãi mãi về sau.

_________________
Đừng vội tin, cũng đừng vội phủ nhận!
http://vn.myblog.yahoo.com/tinhkhicong


Ngoại tuyến
   
 
Hiển thị bài viết cách đây:  Sắp xếp theo  
Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 5 bài viết ] 

Múi giờ UTC + 7 Giờ


 Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào trực tuyến.1 khách.


Bạn không thể tạo chủ đề mới.
Bạn không thể trả lời bài viết.
Bạn không thể sửa những bài viết của mình.
Bạn không thể xóa những bài viết của mình.
Bạn không thể gửi tập tin đính kèm.

Tìm với từ khóa:
Chuyển đến:  
 
cron